Ông Nguyễn Đình Cung, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) đã có cuộc trao đổi với nhà báo xung quanh đà tăng trưởng và dự báo kinh tế trong những tháng còn lại của năm 2010.
Thưa ông, kinh tế sáu tháng đầu năm tiếp tục có những tín hiệu phục hồi ổn định. Điều này cho thấy nền kinh tế của nước ta sau suy giảm đang có những bước đi đúng hướng, theo ông có phải như vậy không?
- Ông Nguyễn Đình Cung: Đánh giá tình hình kinh tế trong mấy tháng gần đây phải đặt trong cái nhìn từ nhiều năm trước, hiện tại và 5-10 năm tới, chứ không thể chỉ là cái nhìn mang tính thời điểm. Trong những tháng qua, tăng trưởng GDP theo nhận định chung có thể đạt tới 6,5% vào cuối năm. Lạm phát dần giảm xuống và ổn định. Giá cả cũng vậy. Đó là những tín hiệu tích cực cho thấy các chính sách mà Chính phủ đưa ra nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, cơ bản là tích cực.
Nhưng mục tiêu của Việt Nam đặt ra không phải là tăng trưởng GDP 6,5% mà là 7% hoặc cao hơn nữa. Nhìn như vậy, động lực đằng sau sự tăng trưởng hiện nay là gì? Về cơ bản, nó không khác trước. Đó là sự tăng trưởng đã đến giới hạn của vốn và đầu tư. Hiện tại không thể huy động thêm đầu tư vì nó đã rất cao. Nếu huy động thêm thì thâm hụt ngân sách sẽ tăng, cùng với vốn, tiền tệ phải nới lỏng, như vậy lạm phát lại có xu hướng tăng. Đó là một vòng luẩn quẩn.
Ở thời điểm này, các động thái chính sách phải hướng đến việc nâng cao năng suất và hiệu quả. Đầu tiên là hiệu quả của đầu tư nhà nước. Chính phủ phải đưa ra tín hiệu chuyển việc phân bổ nguồn lực từ dàn trải sang tập trung, ưu tiên đầu tư vào những dự án hiệu quả, giải quyết điểm nghẽn của nền kinh tế là hạ tầng cơ sở. Như vậy, nói đi nói lại thì tái cơ cấu kinh tế vẫn là quan trọng.
Tái cơ cấu là một giải pháp tổng thể, lâu dài chứ không phải là giải pháp tức thời, vậy theo ông, trước mắt Chính phủ có thể làm gì?
- Phải bố trí, điều chỉnh lại đầu tư nhà nước một cách tập trung hơn, thay đổi quản trị doanh nghiệp, quản trị công. Đó là những lĩnh vực mà chính sách có thể thực hiện được ngay. Việc tăng hiệu quả, nói khác đi là làm cho áp lực tăng đầu tư giảm, áp lực đưa tiền ra cũng giảm dẫn đến việc hấp thụ nguồn lực tốt hơn. Như vậy sẽ giảm bội chi và giảm nợ nần.
Những tín hiệu quan trọng này rất cần cho thị trường và dân chúng ổn định tâm lý, ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh. Biện pháp giảm đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước phải được làm quyết liệt để tạo lòng tin cho thị trường. Tất nhiên tăng trưởng là cả một quá trình chứ không phải ngày một, ngày hai. Nhưng điều quan trọng nhất là người ta phải nhìn thấy tín hiệu đó, nó cho thấy quá trình tăng trưởng về chất đã được khởi động.
Dựa theo phân tích của ông, có thể thấy một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô hiện vẫn tiềm ẩn những bất ổn lớn. Ví dụ như nợ quốc gia tiến tới gần sát mức 50% GDP, thâm hụt ngân sách và thâm hụt cán cân thanh toán tổng thể ở mức cao...
- Việt Nam đang đầu tư lớn để tăng trưởng nên tiết kiệm của nền kinh tế chưa đầy 30% GDP, trong khi tổng đầu tư toàn xã hội trên 40% GDP. Đầu tư nhiều lên mà không có khoản tiết kiệm trong nước bù đắp lại thì thâm hụt cán cân thanh toán lớn. Nếu nâng cao hiệu quả đồng thời giảm áp lực đầu tư thì sẽ giảm thâm hụt cán cân thanh toán.
Ngay cả những dự án đầu tư lớn có nhu cầu sử dụng ngoại tệ cũng phải cân nhắc đến sự tác động đến cán cân thanh toán, nhu cầu nhập khẩu của nền kinh tế. Cùng lúc mà Chính phủ khởi công nhiều dự án lớn, trị giá hàng tỉ đô la, thì cán cân thanh toán bị ảnh hưởng là điều chắc chắn. Nếu thâm hụt kéo dài và không có khả năng tái tạo ngoại tệ thì ổn định cán cân vĩ mô rất mong manh.
Mỗi sự thay đổi từ thị trường thế giới, dù là rất nhỏ cũng có thể tác động lớn. Đặc biệt dự trữ ngoại tệ của Việt Nam lại nhỏ. Do vậy, Chính phủ luôn cần củng cố niềm tin cho thị trường bằng các động thái chính sách đúng mức, đúng lúc. Khi thị trường có niềm tin người ta sẽ ứng xử hợp lý. Còn ngược lại sẽ dẫn đến những bất ổn.
Trích nguồn: TBKTSG