Bước vào năm 2009, tình hình trong nước và thế giới có nhiều yếu tố và điều kiện thuận lợi đan xen với những khó khăn, thách thức cho phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Để thực hiện thành công kế hoạch 5 năm (2006-2010), nhiệm vụ đặt ra cho năm 2009 là rất nặng nề. Bộ Kế hoạch và Đầu tư sơ bộ đưa ra định hướng phát triển kinh tế- xã hội năm 2009.
Dự kiến bước đầu về một số chỉ tiêu chủ yếu của năm 2009
Các chỉ tiêu kinh tế
- Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 7-7,5% so với năm 2008; GDP theo giá thực tế dự kiến khoảng 1.778-1.786 nghìn tỷ đồng, tương đương khoảng 103 tỷ USD; GDP bình quân theo đầu người khoảng 1.180 USD.
- Giá trị tăng thêm của ngành nông, lâm, ngư nghiệp tăng khoảng 3,0-3,3%; ngành công nghiệp và xây dựng tăng 8,0-8,5%; ngành dịch vụ tăng khoảng 7,8-8,3%.
- Cơ cấu GDP chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm tỷ trọng nông, lâm, ngư nghiệp; tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ: nông, lâm, ngư nghiệp từ 20% năm 2008 giảm xuống còn 19,7% năm 2009; công nghiệp và xây dựng 41,7% lên 41,8% năm 2009; dịch vụ tăng từ 38,3% lên 38,5 năm 2009, bằng năm 2008.
Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 22% so với năm 2008; tổng kim ngạch nhập khẩu tăng 21%.
Tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội khoảng 720 nghìn tỷ đồng, bằng 40,5% GDP.
Tổng thu ngân sách nhà nước khoảng 379-388 nghìn tỷ đồng; tổng chi ngân sách nhà nước 461-470 nghìn tỷ đồng.
Bội chi ngân sách nhà nước khoảng 87.000 nghìn tỷ đồng, bằng 5% GDP.
Chỉ số giá tiêu dùng năm 2009 thấp hơn năm 2008.
Các chỉ tiêu xã hội
Thực hiện chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở, nâng số tỉnh đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở lên 58 tỉnh.
Tuyển mới đại học, cao đẳng tăng 12%; trung học chuyên nghiệp và đào tạo nghề tăng 17%.
Phấn đấu duy trì mức giảm tỷ lệ sinh bình quân trong năm 0,3‰; quy mô dân số 87,3 triệu người.
Tạo việc làm cho khoảng 1,7 triệu lao động, trong đó xuất khẩu lao động 9 vạn người.
Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 12-12,5%.
Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng xuống dưới 20%.
Giảm tỷ lệ chết trẻ em dưới 1 tuổi xuống dưới 15,5%o
Giảm tỷ lệ chết trẻ em dưới 5 tuổi xuống dưới 20%o
Các chỉ tiêu môi trường
Cung cấp nước sạch cho 79% dân số nông thôn.
Tỷ lệ khu đô thị có hệ thống xử lý nước thải: 37%
Tỷ lệ chất thải rắn được thu gom: 85%
Tỷ lệ xử lý chất thải rắn nguy hại: 72%
Tỷ lệ xử lý chất thải rắn y tế: 93%
Tỷ lệ che phủ rừng đến cuối năm 2009 đạt 41,4%.
Dự báo một số cân đối lớn của nền kinh tế
Thứ nhất, về lao động và việc làm:Năm 2009, lực lượng lao động cả nước có khoảng 55,49 triệu người. Số lao động có khả năng lao động trong năm 2009 khoảng 51,9 triệu người, trong đó số làm việc trong nền kinh tế quốc dân khoảng 47 triệu người.
Dự kiến năm 2009 giải quyết việc làm cho 1,7 triệu người, trong đó khoảng trên 1,3 triệu chỗ làm việc mới. Xuất khẩu lao động dự kiến khoảng 90 nghìn người. Tỷ lệ thất nghiệp thành thị giảm xuống còn 4,7% số lao động trong độ tuổi. Tỷ lệ lao động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp 52,2%, công nghiệp và xây dựng 21,1%, dịch vụ 26,7%.
Thứ hai, về khả năng cân đối ngân sách. Dự kiến tổng thu cân đối ngân sách nhà nước năm 2009 là 379-388 nghìn tỷ đồng, tăng 5,7-8,4% so với ước thực hiện năm 2008, trong đó thu nội địa là 230.000 tỷ đồng, tăng 16,2%; thu từ dầu thô ước đạt 85 nghìn tỷ đồng; thu từ xuất nhập khẩu 69,5 nghìn tỷ đồng.
Tổng chi ngân sách nhà nước năm 2009 dự kiến khoảng 461-471 nghìn tỷ đồng, tăng 6,6-6,8% so với ước thực hiện năm 2008; trong đó, chi đầu tư phát triển 125 nghìn tỷ đồng.
Bội chi ngân sách nhà nước dự kiến khoảng 87.000 tỷ đồng, bằng 5% GDP.
Thứ ba, về cán cân thanh toán quốc tế. Cán cân thương mại dự báo thâm hụt khoảng 26,3 tỷ USD. Cán cân dịch vụ có thâm hụt khoảng 1,2 tỷ USD. Thâm hụt thu nhập đầu tư ròng năm 2009 ở mức 2,6 tỷ USD. Tuy nhiên, do lượng kiều hối chuyển về nước tiếp tục tăng lên, năm 2009 dự báo khoảng 9,16 tỷ USD, cho nên cán cân vãng lai thâm hụt khoảng 20,9 tỷ USD. Cán cân vốn dự kiến tiếp tục thặng dư do gia tăng nguồn vốn FDI và các khoản vay ODA, vay của doanh nghiệp. Năm 2009, dự báo cán cân vốn thặng dư khoảng 17,8 tỷ USD. Tổng hợp lại cán cân thanh toán quốc tế năm 2009 thâm hụt khoảng 2,2 tỷ USD.
Thứ tư, về cân đối vốn đầu tư phát triển. Trên cơ sở cân đối tích luỹ tiêu dùng, đồng thời với việc triển khai đồng bộ các giải pháp để thu hút nguồn vốn trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển, dự báo khả năng huy động nguồn vốn đầu tư phát triển năm 2009 vào khoảng 720 nghìn tỷ đồng, tăng 16,8% so với ước thực hiện năm 2008 và bằng 40,5% GDP. Dự kiến huy động các nguồn vốn như sau:
Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước khoảng 125 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 17,4% tổng nguồn vốn đầu tư xã hội và tăng khoảng 22,5% so với ước thực hiện năm 2008.
Nguồn vốn trái phiếu Chính phủ 35 nghìn tỷ đồng, chiếm 4,9% tổng nguồn vốn đầu tư xã hội, tăng 40% so với ước thực hiện năm 2008.
Nguồn vốn tín dụng khoảng 50 nghìn tỷ đồng, chiếm 6,9% tổng nguồn vốn đầu tư xã hội, tăng 25% so với ước thực hiện năm 2008.
Nguồn vốn từ khu vực doanh nghiệp nhà nước khoảng 85 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 11,8% tổng nguồn vốn, tăng 19,7% so với ước thực hiện năm 2008.
Nguồn đầu tư của khu vực dân cư khoảng 235 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 32,6% nguồn vốn, tăng 23,7%.
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài dự kiến thực hiện 180 nghìn tỷ đồng, chiếm 25% tổng nguồn vốn, tăng 17,6% so với ước thực hiện năm 2008.
Vốn huy động khác khoảng 10 nghìn tỷ đồng, chiếm 1,4% tổng nguồn vốn, tăng 11,1% so với ước thực hiện 2008.
Định hướng phát triển ngành và lĩnh vực
Một, phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn: Hướng ưu tiên nguồn lực và sự chỉ đạo cho phát triển năm 2009 tập trung vào các sản phẩm: (i) đối với trồng trọt tập trung vào lúa gạo đảm bảo an ninh lương thực, mở rộng diện tích trồng cao su; (ii) chăn nuôi tập trung vào con lợn, gia cầm, bò thịt; (iii) lâm nghiệp tập trung vào công tác khoanh nuôi, bảo vệ và trồng rừng kinh tế; (iii) đối với ngành nuôi trồng thuỷ sản tập trung vào nuôi nước lợ, trong đó chủ yếu vẫn là con tôm sú, nuôi nước ngọt chủ yếu là cá tra và ba sa; (iiii) đối với ngành khai thác thuỷ sản tập trung khai thác xa bờ.
Dự kiến năm 2009, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 4,3-4,6% so với năm 2008.
Hai, phát triển công nghiệp: Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng giảm dần tỷ trọng của khu vực doanh nghiệp nhà nước, tăng tỷ trọng khu vực ngoài quốc doanh và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Tiếp tục tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến, điện, nước, gas và giảm tỷ trọng công nghiệp khai khoáng thông qua việc khuyến khích đầu tư các doanh nghiệp áp dụng công nghiệp chế biến sâu, tăng giá trị gia tăng ngành công nghiệp.
Tập trung phát triển các ngành công nghiệp khai thác và chế biến sâu khoáng sản vì các ngành tạo giá trị gia tăng lớn, giảm sự lệ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu góp phần kiềm chế lạm phát, giảm nhập siêu.
Dự kiến giá trị sản xuất công nghiệp năm 2009 tăng 16-16,5% so với năm 2008.
Ba, phát triển doanh nghiệp: Tiếp tục đẩy mạnh công tác sắp xếp, cổ phần hoá; kiện toàn tổ chức hoạt động, đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh của các tập đoàn, tổng công ty để luôn giữ nòng cốt trong điều tiết kinh tế vĩ mô và thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp khác; tiếp tục đổi mới quản lý của Nhà nước và quản lý của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp.
Bốn, phát triển dịch vụ: Tập trung phát triển mạnh các ngành dịch vụ có thế mạnh, lợi thế đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu xã hội, trong đó chú trọng phát triển hệ thống phân phối. Thực hiện chuyển dịch cơ cấu các ngành dịch vụ theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu, tập trung vào các thị trường có sức mua lớn nhưng hiện chiếm tỷ trọng thấp, mở các thị trường mới. Dự kiến tốc độ tăng giá trị gia tăng toàn ngành dịch vụ năm 2009 khoảng 7,8-8,3%.
Dự kiến tổng mức lưu chuyển bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ xã hội năm 2009 tăng khoảng 25 - 27% so với năm 2008.
Dự kiến số lượt khách du lịch của Việt Nam năm 2009 là 28,4 triệu lượt khách. Doanh thu từ du lịch năm 2009 dự kiến là 66.000 tỷ đồng, tăng 8,2% so với ước thực hiện năm 2008.
Khối lượng hàng hoá vận chuyển đạt 464 triệu tấn, tăng 9,4% so với năm 2008; khối lượng hàng hoá luân chuyển đạt 113 tỷ T.Km, tăng 8,7% so với năm 2008.
Khối lượng vận tải hành khách vận chuyển đạt 1.908 triệu lượt hành khách, tăng 9,2% so với năm 2008; khối lượng hành khách luân chuyển đạt 83,6 tỷ HK.Km, tăng 8,7% so với năm 2008.
Tổng số máy điện thoại phát triển mới khoảng 7,5 triệu máy; mật độ điện thoại/100 dân khoảng 73,1 máy.
Tổng số thuê bao Internet phát triển mới 1,53 triệu thuê bao; mật độ thuê bao Internet/100 dân là 9 thuê bao.
Năm, về xuất, nhập khẩu: Dự kiến kim ngạch xuất khẩu năm 2009 là 74,6 tỷ USD, tăng 22% so với năm 2008. Trong đó kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) trên 40 tỷ USD, tăng khoảng 12,2% so với năm 2008; nếu không tính dầu thô thì kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 29,5 tỷ USD, tăng 21,9%.
Kim ngạch nhập khẩu năm 2009 dự kiến là 96,6 tỷ USD, tăng khoảng 18% so với năm 2008. Trong đó kim ngạch nhập của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 33 tỷ USD, tăng 20% so với năm 2008.
Dự kiến, nhập siêu năm 2009 khoảng 22,1 tỷ USD, bằng khoảng 29,6% kim ngạch xuất khẩu.
Sáu, định hướng đầu tư phát triển: Thực hiện nhiều biện pháp để nhằm huy động tối đa các nguồn lực của thành phần kinh tế trong và ngoài nước đầu tư thực hiện các mục tiêu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2009, cũng như kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006-2010.
Tiếp tục đầu tư xây dựng các công trình qui mô lớn, các công trình quan trọng quốc gia, các công trình liên vùng, các công trình có sức lan toả cao, các công trình giải quyết các vấn đề an sinh xã hội; Tích cực triển khai đầu tư cơ sở kết cấu hạ tầng về năng lượng; Tăng cường vốn ODA cho các dự án thực hiện xoá đói giảm nghèo, các dự án giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, các vấn đề liên quan đến nông thôn và nông dân; Thực hiện xã hội hoá trong hoạt động đầu tư.
Đầu tư, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, từng bước hoàn thiện hệ thống đào tạo tiến tiến để xây dựng được đội ngũ trí thức mới có trình độ cao, đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp và hội nhập kinh tế quốc tế.
Bảy, giáo dục và đào tạo: Củng cố, duy trì và phát huy kết quả thực hiện xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, phấn đấu đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi. Tăng tỷ lệ huy động và hiệu quả đào tạo, giảm tỷ lệ lưu ban bỏ học ở giáo dục phổ thông.
Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động của nhà trường, nhất là ứng dụng trong giảng dạy, học tập và quản lý giáo dục.
Tiếp tục phát triển quy mô đào tạo, chú trọng phát triển qui mô đào tạo nghề; Gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng, tăng cường đào tạo thông qua hợp đồng đào tạo; điều chỉnh cơ cấu đào tạo theo bậc đào tạo, từng bước điều chỉnh theo ngành và lãnh thổ, đặc biệt chú trọng các vùng Tây Nguyên, Tây Bắc, Đồng Bằng sông Cửu Long.
Tám, khoa học và công nghệ: Tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ cao.
Phát triển thị trường công nghệ thông qua các hoạt động chuyển giao công nghệ, tư vấn, môi giới chuyển giao công nghệ, tổ chức các chợ công nghệ và thiết bị.
Đổi mới cơ chế, chính sách, tổ chức và quản lý hoạt động nhằm khai thác và phát huy tiềm lực khoa học và công nghệ, nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội.
Chín, tăng cường công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân: Giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ. Tạo cơ hội để mọi người dân được cung cấp các dịch vụ y tế cơ bản, có điều kiện tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng.
Đạt 6,2 bác sỹ trên 10.000 dân. Tăng giường bệnh trên 1 vạn dân (bao gồm cả giường y tế xã, phường) lên 26 giường.
Tăng tỷ lệ số trạm y tế xã có bác sĩ lên 73% năm 2009, Duy trì 100% trạm y tế xã có đủ điều kiện hoạt động và đủ nữ hộ sinh.
Đảm bảo duy trì tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ 6 loại vắc xin ở mức 95% trở lên.
Mười, công tác giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo và các vấn đề xã hội: Thực hiện nhiều giải pháp tạo ra nhiều việc làm mới; giảm tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị; ổn định và cải thiện đời sống nhân dân.
Giảm trên 2% tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn mới), đến cuối năm 2009, tỷ lệ số hộ nghèo còn 12-12,5%. Thực hiện chính sách khuyến khích làm giàu hợp pháp.
Phấn đấu duy trì mức giảm sinh 0,3%o và đạt tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên 1,21% (qui mô dân số đạt 87,34 triệu người). Nâng cao chất lượng dân số; thực hiện mô hình gia đình ít con. Cơ cấu lại dân số và phân bổ dân cư phù hợp với phát triển kinh tế-xã hội.
Tiếp tục thực hiện mục tiêu xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nâng cao tính văn hoá trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sinh hoạt của nhân dân.
Phát triển hệ thống thông tin báo chí, chủ động hội nhập. Phát triển từng bước công nghệ thông tin (viễn thông, tin học, báo điện tử).
Nguồn: Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 14