Trong năm 2009, dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, thương mại thế giới sụt giảm nghiêm trọng (giảm 12,2% về lượng và 23% về giá trị so với năm 2008). Đặc biệt, tại một số nền kinh tế lớn và phát triển như Mỹ, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, mức giảm thậm chí còn cao hơn, tương ứng giảm 13,9%, 14,8% và 24,9%. Nhiều nước đang phát triển cũng ghi nhận mức giảm mạnh trong xuất khẩu, đáng chú ý là xuất khẩu của Trung Quốc trong năm 2009 của Trung Quốc đã giảm đến 10,5%. Nguyên nhân suy giảm thương mại toàn cầu năm 2009 là do phần lớn các nền kinh tế phát triển và nhiều nền kinh tế đang phát triển rơi vào suy thóai, thậm chí tăng trưởng âm, kéo theo cầu tiêu dùng trong nước và cầu nhập khẩu hàng hóa giảm mạnh; sự sụt giảm của giá dầu thô và nhiều loại hàng hóa cơ bản khác cũng đóng góp vào sự sụt giảm thương mại toàn cầu.
Tuy nhiên, bước sang năm 2010, cùng với việc nhiều nền kinh tế thoát ra khỏi khủng hoảng, khôi phục đà tăng trưởng kinh tế (kinh tế thế giới dự báo sẽ đạt mức tăng trưởng từ 2,4-3,1%), thương mại toàn cầu dự báo đạt mức tăng trưởng khá (vào khoảng 9,5%), chủ yếu nhờ vào sự hồi phục xuất khẩu của các nước đang phát triển, đặc biệt là Trung Quốc và Ấn Độ. Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Trung Quốc hiện đã vượt Đức trở thành quốc gia xuất khẩu lớn nhất thế giới (chiếm khoảng 10% xuất khẩu tòan cầu) và đứng thứ 2 thế giới về nhập khẩu (chiếm 8% nhập khẩu toàn cầu), chỉ sau Mỹ. Giá các mặt hàng cơ bản dự báo sẽ có xu hướng tăng trong thời gian tới.
Tuy nhiên, triển vọng phục hồi của thương mại thế giới vẫn bị đe dọa bởi nguy cơ bảo hộ thương mại. Trong thời gian qua, theo đà suy giảm kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp tại nhiều nước, đặc biệt tại các nước phát triển đã lên đến mức báo động, theo đó, áp lực bảo hộ thị trường và việc làm trong nước tiếp tục tăng. Theo WTO và Ngân hàng Thế giới (WB), các biện pháp bảo hộ thương mại đang có xu hướng tăng lên, có thể làm chệch hướng tiến trình phục hồi của thương mại toàn cầu của thương mại toàn cầu nói riêng và quá trình tự do hóa thương mại nói chung. Trong thời gian tới, các yêu cầu về bảo hộ, trả đũa trong thương mại và các vụ kiện chống bán phá giá (CBPG) dự báo sẽ tiếp tục tăng.
Là một nước phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu, Việt Nam cần có biện pháp để đối phó với nguy cơ này, đặc biệt là các vụ kiện CBPG tại Mỹ - thị trường xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam. Một số mặt hàng trong thời gian tới dễ bị kiện CBPG là: ống nước bằng thép, đồ gỗ nội thất, các tra, các basa, đinh và ốc vít, hàng dệt may, máy lạnh, máy điều hòa… Một số biện pháp các nhà xuất khẩu Việt Nam có thể áp dụng để ngăn ngừa hoặc giảm thiệt hại là: đa dạng hóa thị trường, bán với giá không bị kết luận CBPG, xuất khẩu các sản phẩm nước bạn không sản xuất, lập nhà máy sản xuất ở nhiều nước, sổ sách kế toán rõ ràng….
Trích nguồn: Trung tâm TT&DB KT- XH QG