Trong khi Quốc hội, Chính phủ và các nhà kinh tế đang nói nhiều về tương lai của đất nước trong những năm tới, về tái cơ cấu nền kinh tế và thay đổi mô hình tăng trưởng thì dường như chúng ta quên mất rằng trước tiên phải xác định rõ một chủ thuyết (hiểu theo nghĩa một lý thuyết kinh tế) cho phát triển kinh tế đất nước.
Chính sách kinh tế vĩ mô ở các nước phát triển cũng như nhiều nước đang phát triển khác được xây dựng dựa trên một chủ thuyết phát triển cơ bản làm nền tảng, trong đó có chính sách phát triển kinh tế trong điều kiện bình thường cũng như chính sách ứng phó trong giai đoạn khó khăn của chu kỳ kinh tế. Lịch sử gần một thế kỷ qua đã chứng kiến sự ra đời và phát triển của nhiều chủ thuyết kinh tế nhưng có lẽ những tranh luận vĩ mô giữa Kinh tế học Keynes và Kinh tế học tiền tệ/Tân cổ điển đã có ảnh hưởng sâu sắc nhất đến việc hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô ở các nước.
Chúng ta đang theo Keynes...
Kinh tế học Keynes coi trọng vai trò của chính phủ và chính sách tài khóa. Trường phái này cho rằng nền kinh tế không có cơ chế tự điều chỉnh (self-correcting) và sự can thiệp đúng lúc của chính phủ là rất quan trọng để ổn định nền kinh tế. Hiểu một cách đơn giản là chính phủ phải thực hiện chính sách tài khóa thâm hụt trong giai đoạn trì trệ vì đầu tư từ khu vực tư nhân là không đủ để thúc đẩy sản xuất và giúp nền kinh tế vượt qua giai đoạn khó khăn của chu kỳ.
Chính sách can thiệp của Chính phủ Việt Nam thời gian qua dưới hình thức hỗ trợ lãi suất có thể coi là một biện pháp kích cầu khá đặc biệt vì về bản chất cũng là mở rộng tài khóa nhưng lại “mượn” công cụ tiền tệ, thay vì hạ lãi suất cơ bản lại giữ lãi suất ở mức cao và trợ cấp lãi suất cho vay. Cho đến nay chưa có đánh giá cụ thể nào về hiệu quả của chính sách này nhưng có thể thấy sự hoán chuyển khái niệm tài khóa - tiền tệ, hay kích cầu - giải cứu đã cứu nhiều ngân hàng vượt qua cơn khốn khó về thanh khoản (do đã coi thường rủi ro tín dụng và rủi ro chênh lệch kỳ hạn trong giai đoạn 2007-2008). Một số ít doanh nghiệp “may mắn” được nhận hỗ trợ nhưng thị trường tiền tệ, thị trường ngoại hối cũng như môi trường kinh doanh bị bóp méo; hàng loạt nguy cơ bất ổn vĩ mô như thâm hụt ngân sách, đầu tư công vốn được đánh giá hiệu quả thấp chèn lấn đầu tư tư nhân, lạm phát, nợ Chính phủ tăng cao tiềm ẩn nhiều rủi ro...
Sau khi Chính phủ công bố tiếp tục kích cầu thông qua hỗ trợ lãi suất ngắn hạn đến hết tháng 3-2010 và hỗ trợ lãi suất trung-dài hạn đến hết năm 2011, câu hỏi nhiều người đặt ra là chúng ta sẽ kích cầu đến khi nào? Đã nhiều năm qua biết bao nhiêu doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước luôn trong tình trạng “sức khỏe có vấn đề”. Do đó, khi gói thứ hai kết thúc, liệu chúng ta sẽ tiếp tục có gói thứ ba, thứ tư... để “tiếp sức” cho các doanh nghiệp? Cần lưu ý rằng những đề xuất chính sách kiểu Keynes chỉ hợp lý trong điều kiện suy thoái và có tác dụng ngắn hạn để giúp nền kinh tế vượt qua giai đoạn khó khăn của chu kỳ. Cho đến nay kinh tế nước ta đã có những dấu hiệu phục hồi rõ rệt, GDP tăng liên tục ba quí và đạt 4,56% sau chín tháng, sản xuất công nghiệp từ mức âm 4,4% vào tháng 1-2009 đã tăng lên 13,8% vào tháng 9-2009... Do đó, kích thích tài khóa (hoặc mượn công cụ tiền tệ) bất chấp các cân đối vĩ mô ngày càng xấu đi không nên tiếp tục được duy trì.
Chủ thuyết phát triển cho Việt Nam
Trái với những người theo Keynes, Kinh tế học tiền tệ/Tân cổ điển lại khuyến khích sự phát triển thị trường tự do, giảm thiểu sự can thiệp của chính phủ. Nền kinh tế hoạt động theo cơ chế tự điều chỉnh (self-correcting) và những chính sách ổn định kiểu Keynes là không cần thiết. Điều các chính phủ cần làm là đưa ra chính sách kinh tế vĩ mô càng dễ dự đoán càng tốt, nghĩa là chính sách càng ổn định thì kinh tế sẽ ổn định trong trung-dài hạn và đó là điều kiện cơ bản để phát triển kinh tế.
Trên thực tế, từ đầu những năm 1980 đến nay không có nước nào chỉ áp dụng duy nhất một trong hai chủ thuyết nói trên, kể cả Mỹ là nước đề cao Kinh tế học tiền tệ/Tân cổ điển và theo đó đã phát triển hệ thống thị trường tự do ở trình độ cao. Nhiều nước đang áp dụng chủ thuyết thực dụng (pragmatism) trong hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô, lựa chọn giải pháp hiệu quả nhất mà các trường phái đưa ra trong từng hoàn cảnh cụ thể. Việc nước Mỹ sử dụng gần 2.000 tỉ đô la để kích cầu/giải cứu các tổ chức tài chính và đang nhanh chóng tự điều chỉnh vai trò nhà nước trong nền kinh tế thị trường tự do (đặc biệt là thị trường tài chính) nhằm khắc phục những nhược điểm bộc lộ trong thời gian qua đã cho thấy rõ quan điểm trên.
Theo chủ thuyết này, khi bước vào pha phục hồi và đi lên, bên cạnh việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, những đề xuất chính sách cụ thể của chủ nghĩa tân tự do (neoliberalism) xây dựng trên cơ sở Kinh tế học tiền tệ/Tân cổ điển như khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, tăng cường kỷ luật tài khóa, lãi suất theo cơ chế thị trường, tự do hóa thương mại, mở cửa thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, đẩy mạnh chính sách giải quy (nhưng cần giám sát thận trọng các tổ chức tài chính)... chính là cơ sở để cơ cấu kinh tế tự điều chỉnh theo hướng hiệu quả/hợp lý hơn và thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Thực tế cũng cho thấy những chính sách trên không chỉ mang lại thành công cho các nước phát triển như Mỹ, Anh... mà còn giúp mang lại nhiều thay đổi quan trọng cho những nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam, Trung Quốc hay các nước Đông Âu.
Đây là triết lý cơ bản của chủ thuyết thực dụng mà chúng ta cần cân nhắc kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào tái cấu trúc nền kinh tế hay xây dựng mô hình phát triển kinh tế cho tương lai.
Trích nguồn: Theo: TBKTSG