Trong năm 2009, nền kinh tế thế giới suy thoái nặng nề; ở trong nước tình hình thiên tai, dịch bệnh gây nhiều hậu quả nghiêm trọng. Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta đã kịp thời thực hiện những giải pháp tổng hợp, cấp bách ngăn chặn suy giảm kinh tế, đạt tốc độ tăng trưởng khá và tăng được nguồn lực cho đầu tư phát triển; duy trì sự ổn định kinh tế vĩ m ô; bảo đảm an sinh xã hội.
Trong quý II, giá trị sản xuất công nghiệp đã tăng trưởng trở lại một cách ổn định, tháng sau cao hơn tháng trước, dự kiến cả năm tăng 7,2%. Giá trị tăng thêm của ngành xây dựng tăng 11,3%, khu vực dịch vụ tăng khoảng 6,5%. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý sau tăng cao hơn quý trước: quý I tăng 3,14% quý II là 4,46%, quý III 5,76%, dự kiến cả năm tăng khoảng 5,2%, vượt chỉ tiêu mà Quốc hội đề ra.
Tuy kết quả tích cực nêu trên được khẳng định, song bên cạnh đó còn nổi lên những hạn chế, yếu kém. Đó là, tốc độ tăng trưởng GDP năm 2009 thấp nhất trong 10 năm gần đây. Tăng trưởng chủ yếu vẫn hướng theo chiều rộng, dựa vào các yếu tố tăng quy mô, khối lượng sản xuất, vì vậy tăng trưởng kém bền vững; cơ cấu sản xuất sản phẩm nội bộ ngành, cơ cấu kinh tế tổng sản phẩm chậm chuyển dịch tích cực và kém hiệu quả. Năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh còn thấp; từ đó sức cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp và cả nền kinh tế yếu. Đầu tư phát triển tăng khá nhưng hiệu quả sử dụng vốn chưa tương xứng. Xuất khẩu và du lịch giảm mạnh; tiêu thụ hàng hóa còn khó khăn...
Năm 2010, kinh tế toàn cầu dự báo sẽ có chuyển biến tích cực hơn nhưng khó khăn còn nhiều. Ở trong nước, những thuận lợi cơ bản, những yếu kém vốn có của nền kinh tế đang đặt ra cho nền kinh tế phải vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, phấn đấu thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đạt mức tăng trưởng cao hơn và bền vững so với năm 2009.
Báo cáo của Chính phủ về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2010, trình tại kỳ họp thứ sáu, Quốc hội khóa XII đã xác định các chỉ tiêu chính về kinh tế, xã hội và môi trường, trong đó chỉ tiêu về tăng trưởng kinh tế dự kiến như sau: Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng khoảng 6,5% so với năm 2009. GDP theo giá thực tế đạt khoảng 1931 nghìn tỷ đồng (tương đương 106 tỷ USD), bình quân đầu người khoảng 1200 USD.
Các yếu tố chủ yếu về sản xuất, xuất khẩu và đầu tư phát triển cấu thành tổng thể GDP thực tế và mức tăng trưởng cao trong năm gồm: giá trị tăng thêm khu vực lâm nghiệp và thủy sản dự kiến tăng khoảng 2,8%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng khoảng 7%, khu vực dịch vụ tăng khoảng 7,5% so với năm 2009. Trong các khu vực sản xuất trên đây tổng kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 6% và tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội bằng khoảng 41% GDP.
Mục tiêu tăng trưởng về chất lượng và hiệu quả sản xuất được thực hiện trong các ngành, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế chủ yếu là nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí trung gian, nâng cao hàm lượng giá trị gia tăng, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm, trên cơ sở đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu hợp lý nền kinh tế, cơ cấu lại sản xuất nội bộ ngành và doanh nghiệp; xây dựng và thực hiện những mô hình sản xuất mới tiến bộ. Tăng cường công tác quản trị doanh nghiệp; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, hướng vào việc tăng năng suất lao động, tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng, năng suất cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm, làm cho khoa học công nghệ thật sự là động lực của tăng trưởng.
Tùy theo điều kiện kinh tế, địa lý của vùng, vai trò và lợi thế của ngành mà mỗi địa phương và doanh nghiệp cần xây dựng và thực hiện những giải pháp thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế hợp lý, bền vững.
Trước hết cần nhận thức đúng vai trò quan trọng và lợi thế lớn của nền nông nghiệp nước ta không chỉ là cơ sở phát triển kinh tế đất nước, tăng kim ngạch xuất khẩu, mà còn bảo đảm an ninh, ổn định xã hội, góp phần quan trọng duy trì tăng trưởng bền vững. Do đó, từng địa phương cần nhanh chóng xây dựng và thực hiện chương trình hành động có hiệu quả, thực hiện Nghị quyết TƯ 7 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; tạo bước chuyển mới trong việc phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp bền vững cả về sức sản xuất, chất lượng, hiệu quả và thị trường tiêu thụ, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống nông dân; thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới; chuyển mạnh các chính sách hỗ trợ tăng trưởng cho khu vực nông nghiệp, nông thôn; khuyến khích các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước đầu tư vào sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản, công nghiệp nông thôn và xây dựng hạ tầng ở nông thôn, nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động trong nông nghiệp, nông thôn.
Rà soát lại quy hoạch và bố trí lại cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mùa vụ để giảm chi phí sản xuất và thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh, tăng giá trị thu nhập cho đơn vị diện tích canh tác hay vật nuôi.
Để tổ chức lại sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả, kinh nghiệm của nhiều địa phương đã chú trọng thực hiện những biện pháp: tăng cường công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; đẩy mạnh áp dụng khoa học công nghệ trong sản xuất, chế biến, bảo quản gắn với các mô hình tổ chức sản xuất mới trong nông nghiệp, hình thành các vùng sản xuất tập trung, áp dụng phương pháp sản xuất tiên tiến... Trong đó, đặc biệt ưu tiên ứng dụng công nghệ sinh học để tạo nhiều giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng và giá trị cao, nhất là giống lúa, ngô, cây ăn quả, thủy sản. Tăng đầu tư cho bảo quản, chế biến các loại nông, lâm, thủy sản, giảm tổn thất, tăng giá trị xuất khẩu. Phát triển các hình thức liên kết sản xuất phù hợp, gắn sản xuất nông sản, cung ứng nguyên liệu với chế biến công nghiệp, hình thành các cụm công nghiệp chế biến gắn với vùng nguyên liệu tập trung, tạo quan hệ ổn định cả về mặt sản xuất và đời sống nông dân.
Tiếp tục đẩy mạnh trồng rừng gắn với bảo vệ rừng; chú trọng thực hiện các chính sách hỗ trợ để người làm nghề rừng có cuộc sống ổn định và được cải thiện. Có biện pháp hữu hiệu ngăn chặn tình trạng phá rừng, khai thác lâm sản, khoáng sản bất hợp pháp.
Thúc đẩy phát triển đồng bộ và hiệu quả hoạt động khai thác môi trường, chế biến thủy, hải sản; trong đó chú trọng bảo đảm chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm theo tiêu chuẩn quy định của các thị trường xuất khẩu, nâng cao giá trị gia tăng; mở rộng các hình thức tổ chức sản xuất tiên tiến theo quy hoạch ở những vùng nuôi trồng, khai thác thủy, hải sản: xây dựng hạ tầng kỹ thuật, đầu tư cơ sở hạ tầng nghề cá, hình thức tổ chức hợp tác, phân công hợp lý giữa các đội tàu nhằm tăng hiệu quả của đánh bắt xa bờ...
Hạn chế những thiệt hại do thiên tai; giảm tổn thất trong quá trình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp không những nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng giá trị gia tăng, mà còn góp phần ổn định xã hội, thu nhập của nông dân. Cần căn cứ điều kiện thực tế, có biện pháp chủ động và thiết thực để phòng tránh thiên tai, giảm đến mức thấp nhất những tổn thất trong sản xuất đổi với từng loại cây trồng, vật nuôi ở từng địa phương cụ thể. Trước hết, cần chú trọng thực hiện những biện pháp hạn chế tổn thất sau thu hoạch nông, thủy sản.
Đẩy mạnh phát triển công nghiệp và xây dựng; chú trọng chuyển đổi cơ cấu sản xuất sản phẩm, cơ cấu hợp lý theo ngành, theo vùng. Trong đó, chuyển dần từ công nghiệp gia công, lắp ráp có giá trị gia tăng thấp sang công nghiệp chế tạo, công nghiệp tạo mẫu, phát triển nhanh công nghiệp phụ trợ (sản xuất các linh kiện, phụ tùng thay thế...) vừa tăng hàm lượng nội địa hóa trong giá trị thành phẩm, vừa tham gia vào các công đoạn có lợi thế trong chuỗi sản xuất liên hoàn. Thúc đẩy công nghiệp cơ khí chế tạo công nghệ cao, thiết bị thay thế hàng nhập khẩu từng bước hình thành các cụm nhóm sản phẩm. Tăng năng lực chế tạo thiết bị và thiết bị đồng bộ phục vụ cho các ngành xi măng, phân bón, điện, đóng tàu, các thiết bị nổi, cơ khí phục vụ nông nghiệp...
Tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, các loại nghề tiểu thủ công nghiệp nông thôn. Hỗ trợ các doanh nghiệp này dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn tín dụng, với thị trường tiêu thụ, kỹ thuật mới; đào tạo nghề, ổn định việc làm và tăng thu nhập cho người lao động.
Hiện đại hóa ngành xây dựng đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, nâng cao năng lực công nghiệp xây lắp, hình thành các đơn vị xây lắp mạnh đáp ứng nhu cầu trong nước và đấu thầu quốc tế.
Đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư, tiếp tục thu hút các dự án mới đầu tư vào các KCN và thúc đẩy các dự án sớm triển khai thực hiện. Những KCN tại các vùng kinh tế trọng điểm cần điều chỉnh lại cơ cấu thu hút đầu tư, nhất là các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài, ưu tiên đầu tư vào các lĩnh vực chế biến, chế tạo, các lĩnh vực công nghệ cao, tạo ra năng lực xuất khẩu mới. Để tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi khâu quan trọng hiện nay là sớm hoàn thành xây dựng đồng bộ hạ tầng kỹ thuật những KCN đã hoạt động, trong đó cần đưa vào sử dụng hệ thống xử lý nước thải, cấp điện, đường giao thông, công trình an toàn sản xuất...
Thực hiện các giải pháp khuyến khích huy động các nguồn vốn đầu tư phát triển từ các thành phần kinh tế. Tranh thủ nguồn vốn viện trợ phát triển (ODA) nhất là các nguồn vốn có ưu đãi cao. Hoàn thiện cơ chế quản lý và cải tiến thủ tục đầu tư; phân cấp mạnh về quyền hạn và trách nhiệm cho người quyết định đầu tư và chủ đầu tư; đi đôi với tăng cường công tác thanh tra, giám sát, đấu tranh khắc phục đầu tư dàn trải, quy trách nhiệm cá nhân người gây tổn thất và lãng phí, chất lượng công trình kém. Quản lý chặt chẽ vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, vốn trái phiếu Chính phủ và vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước. Đẩy nhanh tiến độ triển khai, thi công các công trình, ưu tiên cho các công trình điện, hạ tầng giao thông, đô thị. Trong thi công những công trình đó, cần đặc biệt bảo đảm tính đồng bộ và khả năng kết nối các phương tiện, thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa, cải thiện cuộc sống dân cư trong vùng.
Phát triển nhanh và hiện đại hóa các ngành dịch vụ, nhất là dịch vụ tài chính, viễn thông, vận tải, du lịch, dịch vụ tư vấn. Tăng cường quản lý thị trường bất động sản, bảo đảm thị trường này phát triển lành mạnh, bền vững, khuyến khích đầu tư vào dịch vụ logistic để giảm giá thành vận tải và chi phí phân phối. Phát triển các loại hình và sản phẩm du lịch hiện đại.
Mở rộng thị trường nội địa, coi trọng thị trường nông thôn. Đa dạng hóa các kênh phân phối. Tạo lập mối liên kết giữa nhà sản xuất với tổ chức phân phối để hợp thành những kênh lưu thông hàng hóa ổn đinh; góp phần quản lý chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm; nâng cao uy tín hàng Việt Nam trên thị trường trong và ngoài nước. Tăng cường các biện pháp chống buôn lậu, gian lận thương mại để bảo vệ và thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển.
Tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu, hàng hóa, dịch vụ, đặc biệt các mặt hàng chủ lực, có lợi thế cạnh tranh, có giá trị gia tăng cao. Tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và du lịch; tích cực khai thác có hiệu quả các thị trường có hiệp định mậu dịch tự do, tăng kim ngạch xuất khẩu, giảm dần nhập siêu.
Trong mọi thời kỳ phát triển của đất nước, việc duy trì tính ổn định và sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế vĩ mô là điều kiện quan trọng nhất để bảo đảm khả năng tăng trưởng nhanh và bền vững. Trong đó, tăng cường vai trò của Nhà nước trong việc điều tiết, quản lý vĩ mô là biện pháp tất yếu.
Năm 2010, nền kinh tế nước ta vẫn còn tiềm ẩn những yếu tố biến động phức tạp, Chính phủ tiếp tục xây dựng và tổ chức thực hiện tốt hệ thống pháp luật, quy hoạch và kế hoạch, các cơ chế, chính sách nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, ngăn ngừa tái lạm phát cao và bảo đảm mục tiêu tăng trưởng. Trong đó đặc biệt chú trọng điều hành chính sách tiền tệ chủ động, hạch toán theo nguyên tắc thị trường, bảo đảm ổn định giá trị đồng tiền; kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng, giảm nợ xấu, quản lý và tạo điều kiện để thị trường chứng khoán phát triển có hiệu quả và bền vững.
Điều hành thị trường ngoại hối và tỷ giá linh hoạt trong mối quan hệ với lãi suất, chỉ số giá tiêu dùng, cán cân thương mại và các kênh đầu tư khác nhằm khuyến khích xuất khẩu, giảm nhập siêu, cải thiện cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế.
Thực hiện các biện pháp tăng thu, chống thất thu; kiên quyết thu hồi nợ đọng, phấn đấu đạt và vượt dự toán thu. Quản lý chặt chẽ chi ngân sách, bảo đảm chi đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả, giảm dần bội chi Ngân sách. Tăng cường công tác quản lý giá; nhất là giá các mặt hàng thiết yếu, đấu tranh chống mọi hiện tượng đầu cơ nâng giá. Quản lý nợ quốc gia.
Các cơ quan quản lý nhà nước cần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý đẩy mạnh cải cách hành chính; thực hiện chính phủ điện tử và ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Tiếp tục cải cách chế độ công vụ. Thực hiện kiên quyết và đồng bộ các giải pháp phòng, chống tham nhũng. Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong thực hành tiết kiệm, chống lãnh phí. Tăng cường công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán; xử lý kịp thời và nghiêm minh các vụ việc vi phạm.
Trích nguồn: Theo: Khu công nghiệp Việt Nam