NCEIF - Sau hơn 23 năm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), kinh tế Việt Nam đã có nhiều thay đổi tích cực. Các doanh nghiệp FDI đã góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nước, chuyển giao công nghệ và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam. Một trong những mục tiêu thu hút FDI của Việt Nam là mong muốn được tiếp cận và sử dụng những công nghệ tiên tiến của thế giới, trong đó có tác động lan tỏa công nghệ trong lĩnh vực chế biến chế tạo.
Để tăng trưởng bền vững trong dài hạn, các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp trong lĩnh vực chế biến chế tạo nói riêng đang từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh bằng việc cải tiến, đổi mới công nghệ. Tác động lan tỏa công nghệ của các doanh nghiệp FDI đến các doanh nghiệp trong lĩnh vực chế biến, chế tạo ở địa phương được xem xét trên hai khía cạnh: theo chiều ngang và theo chiều dọc.
Tác động lan tỏa theo chiều ngang là tác động lan tỏa về công nghệ do cạnh tranh trong cùng một ngành công nghiệp. Tác động này có thể xảy ra giữa các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp FDI ở địa phương. Hiệu ứng lan tỏa công nghệ xảy ra khi một doanh nghiệp trong nước sao chép công nghệ của các đối thủ cạnh tranh nước ngoài thông qua việc sao chép công nghệ hoặc thuê lao động do các doanh nghiệp FDI đào tạo nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong nước. Tuy nhiên, việc dịch chuyển lao động có những ảnh hưởng tiêu cực khi các doanh nghiệp FDI thu hút được người lao động tốt nhất ở địa phương. Theo Le và Pomfret thì có sự tác động tiêu cực của hiệu ứng lan tỏa theo chiều ngang đối với năng suất lao động. Theo Báo cáo “Trình độ công nghệ và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp – bằng chứng qua điều tra doanh nghiệp 2010” của Nhóm nghiên cứu kinh tế (DERG) trường đại học Copenhaghen và Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung Ương (CIEM) , thì hiệu ứng lan tỏa công nghệ theo chiều ngang chưa có sự phân định rõ ràng. Việc xuất hiệu hiệu ứng tiêu cực do các doanh nghiệp FDI thu hút lao động chất lượng cao của các doanh nghiệp trong nước có thể dẫn đến áp lực cạnh tranh, buộc các doanh nghiệp trong nước phải sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực hiện có hoặc chuyển sang công nghệ mới.
Tác động lan tỏa theo chiều dọc là các hiệu ứng lan tỏa công nghệ tiềm năng xuất hiện giữa các nhà cung cấp và khách hàng. Có 2 loại liên kết dọc: (1) Các liên kết ngược là các hiệu ứng lan tỏa công nghệ giữa các nhà cung cấp đầu vào trung gian trong nước và các doanh nghiệp FDI; (2) Các liên kết xuôi là các hiệu ứng lan tỏa công nghệ giữa các khách hàng của các đầu vào trung gian trong nước và các doanh nghiệp FDI tại địa phương.
Các liên kết tích cực có thể diễn ra thông qua chuyển giao kiến thức trực tiếp từ các khách hàng là doanh nghiệp FDI cho các doanh nghiệp trong nước. Từ các yêu cầu cao về chất lượng sản phẩm, thời hạn giao hàng của các doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp cung cấp trong nước sẽ có động lực để nâng cấp công nghệ của mình. Mặt khác, việc gia tăng doanh nghiệp FDI có thể tăng cầu về sản phẩm trung gian và cho phép các nhà cung cấp địa phương thu được hiệu quả nhờ tăng quy mô. Việc chuyển giao công nghệ xảy ra khi thỏa thuận hợp đồng được bảo đảm giữa doanh nghiệp và khách hàng.
Theo Báo cáo “Trình độ công nghệ và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp – bằng chứng qua điều tra doanh nghiệp 2010”, các liên kết xuôi thường xảy ra ở các doanh nghiệp lớn. Trong cùng vùng và cùng lĩnh vực, việc chuyển giao công nghệ trực tiếp từ các nhà cung cấp thường diễn ra ở các doanh nghiệp FDI 100% vốn nước ngoài, các doanh nghiệp tư nhân và các công ty trách nhiệm hữu hạn ít có khả năng thực hiện liên kết xuôi. Trong đó, 2/3 các liên kết xuôi được quy định trong các hợp đồng dài hạn, 1/3 đến từ các tác động ngoài dự kiến của các thỏa thuận hợp đồng và 5% việc chuyển giao không có sự đồng thuận và liên quan đến các hiệu ứng lan tỏa bất ngờ không lường trước.
Cũng theo báo cáo này, các liên kết ngược có nhiều khả năng xảy ra giữa các doanh nghiệp liên doanh. Có rất ít doanh nghiệp (dưới 10%) tham gia vào hợp đồng quy định rõ ràng việc chuyển giao công nghệ từ khách hàng cho doanh nghiệp. Như vậy, hiệu ứng lan tỏa công nghệ theo chiều dọc giữa các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước không nhiều và thường chỉ có ở những doanh nghiệp có ký kết hợp đồng bảo đảm. Báo cáo này cũng chỉ ra rằng, chỉ có chưa đến 9% doanh nghiệp chế biến, chế tạo tham gia vào các hợp đồng dài hạn, hầu như các hợp đồng hiện tại đều có thời hạn dưới một năm. Rõ ràng, nguy cơ bị đẩy ra khỏi thị trường của các doanh nghiệp là rất lớn.
Có thể nói, mục tiêu thu hút vốn FDI nhằm đổi mới, nâng cao công nghệ của các doanh nghiệp trong nước vẫn chưa đạt được như mong muốn. Việc chỉ có ít doanh nghiệp trong nước tham gia ký kết các hợp đồng bảo đảm (trong đó đến hơn 90% là hợp đồng ngắn hạn) đã làm giảm rất nhiều hiệu ứng lan tỏa công nghệ (hiệu ứng ngược) của các doanh nghiệp. Đồng thời, có thể thấy nguy cơ bị đẩy ra khỏi thị trường cung ứng của các doanh nghiệp trong nước là rất lớn. Hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ các doanh nghiệp FDI vẫn chưa thực sự nổi trội, thậm chí tác động tiêu cực do các doanh nghiệp FDI thu hút nhiều lao động có kỹ năng tốt và những công nghệ chuyển giao thường lạc hậu, cũ kỹ. Như vậy, trong chiến lược thu hút vốn FDI ở giai đoạn tới, Việt Nam cần có những tính toán hợp lý để có thu được hiệu quả tốt nhất trong việc chuyển giao công nghệ giữa các doanh nghiệp FDI và các doanh nghiệp trong nước.
Trích nguồn: Bản tin Thông tin về điều hành KT-XH, số 5/2011
Tác giả: Ban Nguồn và Phát triển Thông tin