Do Việt Nam là quốc gia có độ mở khá lớn, hội nhập tương đối sâu và toàn diện vào nền kinh tế khu vực và thế giới, nên đã chịu nhiều tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới.
Thực tế cho thấy, do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam liên tục giảm: từ mức trung bình trên 8%/năm, đến năm 2008 chỉ đạt 6,3% và năm 2009 đạt 5,32% - mức thấp nhất trong 10 năm qua. Nhiều cân đối vĩ mô của nền kinh tế chưa thực sự vững chắc. Bội chi ngân sách của nhà nước (NSNN) ở mức cao nhất trong hàng chục năm qua (đạt 6,9%/GDP), cùng với chính sách tiền tệ nới lỏng, là nguyên nhân dẫn đến nguy cơ lạm phát cao trở lại. Các cân đối như cán cân thanh tóan, cán cân ngoại thương, cân đối cung – cầu vẫn chứa đựng những yếu tố rủi ro cao, đặc biệt khi Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Giá cả vẫn theo chiều hướng biến động phức tạp, CPI tăng trên 7%. Nợ chính phủ và nợ quốc gia mặc dù vẫn trong mức an toàn nhưng ngày càng tăng, gần đến ngưỡng tối đa cho phép, với nhiều khoản nợ đã và sắp hết hạn phải thanh toán lãi hoặc thanh toán cả gốc lẫn lãi.
Để đối phó với những tác động bất lợi của khủng hoảng kinh tế, từ cuối năm 2008, Chính phủ đã đặt mục tiêu chống suy giảm, ổn định nền kinh tế và ban hành nhiều giải pháp, chính sách cấp bách nhằm ngăn chặn đà suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, trong đó tập trung vào 6 nhóm giải pháp chủ yếu.
Sau gần một năm thực hiện, chúng ta đã đạt được một số kết quả nhất định như: kinh tế tiếp tục tăng trưởng; hoạt động tín dụng đã khởi sắc trở lại; xu thế giảm phát được khắc phục; ổn định kinh tế vĩ mô; mở rộng thị trường nội địa, kích cầu đầu tư và hỗ trợ tiêu dùng; bảo đảm an sinh xã hội….
Tuy nhiên, khủng hoảng và suy thóai kinh tế đã làm bộc lộ rõ thêm các yếu kém mang tính bản chất của nền kinh tế Việt Nam. Đây là cơ hội tốt để chúng ta đánh giá cũng như có sự nhận biết đầy đủ và rõ ràng hơn các điểm yếu trên các mặt kinh tế - xã hội, từ đó đề ra các giải pháp hợp lý nhằm khắc phục và vượt qua những yếu kém, khuyết tật của nền kinh tế, trong đó, việc đề xuất và thực thi những chính sách tài chính quốc gia sẽ có vai trò rất quan trọng.
Sau khủng hoảng, Việt Nam sẽ bước vào thời kỳ phát triển mới: ra khỏi ngưỡng nghèo, trở thành nước có mức thu nhập trung bình với những lợi thế mới song cũng kèm theo không ít bất lợi mới. Mục tiêu, nhiệm vụ của ngành tài chính Việt Nam sau khủng hoảng, trước mắt trong giai đoạn 2010-1011 là: xây dựng nền tài chính quốc gia có tiềm lực đủ mạnh, tăng về quy mô, hợp lý về cơ cấu và sử dụng có hiệu quả, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, có khả năng kiểm soát lạm phát, ổn định tiền tệ, giá cả và thị trường, thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng hệ thống chính sách động viên, phân phối tài chính công bằng, tích cực, năng động, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường; xây dựng nền tài chính quốc gia lành mạnh, công khai , minh bạch, dân chủ, được kế toán, kiểm kê, kiểm soát, làm cho tài chính trở thành thước đo hiệu quả mọi hoạt động kinh tế.
Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu và nhiệm vụ nói trên, cần triển khai có hiệu quả các chính sách tài chính sau:
Một là, tăng cường vai trò chủ động, tích cực điều tiết vĩ mô nền kinh tế của các chính sách tài chính và công cụ tài chính.
Hai là, thiết lập và vận hành các chính sách tài chính nhằm thúc đẩy quá trình cơ cấu lại toàn bộ nền kinh tế theo hướng tích cực, theo mô hinh phát triển mới.
Ba là, huy động và tập trung kịp thời, đầy đủ các nguồn thu của Nhà nước trên cơ sở tiếp tục cải cách hệ thống phân phối thu nhập, hệ thống thuế, phí phù hợp với kinh tế thị trường, theo hướng công khai , công bằng, thống nhất hợp lý và đồng bộ. Nâng tỷ trọng thuế trực thu trong tổng thu ngân sách nhà nước, trong đó tăng tỷ trọng thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân.
Bốn là, chính sách tài chính phải góp phần động viên, giải phóng các nguồn lực, trên cơ sở đó, tăng cường tiềm lực tài chính quốc gia.
Năm là, xây dựng và duy trì chính sách phân phối tài chính hợp lý, có chủ định nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, ổn định và bền vững.
Sáu là, xây dựng khuôn khổ pháp lý và vận hành cơ chế, chính sách tài chính doanh nghiệp bình đẳng, ổn định, minh bạch.
Bảy là, đẩy mạnh xã hội hóa các lĩnh vực văn hóa, xã hội, tăng nguồn lực cho đầu tư phát triển, thu hẹp hơn nữa phạm vi trang trải của ngân sách nhà nước.
Tám là, tăng cường hoạt động tài chính đối ngoại tích cực và chủ động hội nhập quốc tế về tài chính nhằm củng cố và phát triển nền tài chính quốc gia.
Chín là, nâng cao năng lực, hiệu lực của hệ thống giám sát tài chính – tiền tệ.
Trích nguồn: Tổng hợp từ Tạp chí TT&DB KT-XH