NCEIF - Doanh nghiệp tư nhân góp vốn và chấp nhận chia sẻ lợi ích cũng như rủi ro với Nhà nước trong các dự án đang là xu hướng hợp tác tại nhiều quốc gia hiện nay. Ở Việt Nam, hoạt động hợp tác công – tư (PPP) đang được nhắc đến như là một cách thức mới và hiệu quả giúp giải quyết vấn đề về vốn, nhất là trong bối cảnh lạm phát tăng, chính sách tiền tệ tài khóa bị thắt chặt, thâm hụt ngân sách nhà nước hiện nay.
Trong thời gian qua, các chuyên gia kinh tế và nhà quản lý đã bày tỏ sự lo ngại trước thực trạng kém hiệu quả của hoạt động đầu tư công trên nhiều tỉnh thành, khu vực, từ đó đề nghị cần có sự thay đổi tận gốc trong việc sử dụng ngân sách, các nguồn vốn cho đầu tư công tại Việt Nam. Đầu tư công ở mức cao hiện được xem là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng lạm phát cao tại Việt Nam hiện nay, gây ảnh hưởng đến vấn đề thâm hụt ngân sách vốn đã diễn ra trong nhiều năm. Cho đến nay ở nước ta, đầu tư công chưa được phát huy hết hiệu quả của nó như một công cụ đặc biệt quan trọng để phát triển nền kinh tế.
Vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước thực hiện trong 5 tháng đầu năm 2011 là 73,3 nghìn tỷ đồng, bằng 39% kế hoạch năm (xấp xỉ 188 nghìn tỷ đồng) và tăng 14,8% so với cùng kỳ năm 2010 . Theo Nghị quyết số 11/CP, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã trình Chính phủ về tình hình rà soát, cắt giảm, sắp xếp lại các nguồn vốn đầu tư nhà nước thực hiện (tương đương với 10% tổng số vốn đầu tư toàn xã hội năm 2011), trong đó tổng số vốn đầu tư của Nhà nước đã cắt giảm, điều chuyển trong năm 2011 là 80,55 nghìn tỷ đồng với mục tiêu đưa ra là nhằm sử dụng đồng vốn hiệu quả, mức đầu tư công năm 2011 giảm xuống chỉ còn 36% so với tổng đầu tư.
Để nâng cao tính hiệu quả của đầu tư công, bên cạnh việc rà soát, kiểm tra và cắt giảm những hạng mục đầu tư kém hiệu quả, một trong những giải pháp quan trọng khác là Nhà nước cần phải thu hút các thành phần kinh tế tham gia vào lĩnh vực đầu tư các dự án, hạng mục công cộng, tăng đầu tư từ khu vực tư nhân, do khi các doanh nghiệp tư nhân tham gia vào sẽ phát huy được hơn nữa hiệu quả sử dụng nguồn vốn, tính sáng tạo, chia sẻ rủi ro cũng như hiệu quả của hoạt động quản lý dự án, công trình xây dựng. Chính vì vậy trong những năm trở lại đây, Nhà nước đã và đang có chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế khác như khu vực tư nhân tham gia theo hình thức hợp tác công - tư (PPP). Tại Việt Nam, khái niệm hợp tác công – tư thường gắn với mô hình BOT (hợp đồng xây dựng - vận hành - chuyển giao), BT (hợp đồng xây dựng – chuyển giao), BTO (hợp đồng xây dựng – chuyển giao – vận hành), BOO (hợp đồng xây dựng – sở hữu – vận hành), trên thực tế có nhiều hình thức hợp tác công – tư với nhiều cấp độ khác nhau về chia sẻ trách nhiệm và rủi ro từ hợp đồng dịch vụ, hợp đồng quản lý, hợp đồng cho thuê, nhượng quyền,… Các dự án PPP của Việt Nam đang ưu tiên vào các lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng “cứng” như đường bộ, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà đường bộ, hệ thống thu gom xử lý chất thải, nhà máy điện, nước, cơ sở hạ tầng mềm về y tế, giáo dục, công nghệ thông tin… Để thu hút đầu tư tư nhân thông qua hình thức hợp tác công – tư, Chính phủ đã sử dụng các biện pháp ưu đãi và bảo đảm đầu tư thông qua ưu đãi thuế, quyền mua ngoại tệ hoặc bảo đảm cân đối ngoại tệ, quyền bảo đảm cung cấp các dịch vụ công.
Nhằm khẳng định chủ trương này, vừa qua Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg về việc ban hành quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công – tư (có hiệu lực từ ngày 15/1/2011) để thực hiện một số dự án, tạo cơ sở để tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách và pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công - tư. Quyết định này có ý nghĩa quan trọng tạo hành lang pháp lý cho việc đẩy mạnh hợp tác PPP ở Việt Nam, mặt khác là động lực, tạo ra bước đột phá mới để phát triển cơ sở hạ tầng, lĩnh vực hạ tầng giao thông, đặc biệt là những tuyến cao tốc lớn ở nước ta. Quyết định này đã đưa ra Quy chế quy định vốn của khu vực tư nhân là 70% trong đó vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư tối thiểu phải bằng 30%, phần còn lại được huy động (không có bảo lãnh Chính phủ) từ các nguồn khác, phần tham gia của Nhà nước không vượt quá 30% tổng mức đầu tư của dự án. Đối với các khoản vay lớn và dài hạn dành cho các dự án đầu tư theo hình thức công – tư, các doanh nghiệp tư nhân có thể vay vốn từ các ngân hàng thương mại, quỹ đầu tư, các định chế tài chính hoặc thông qua phát hành trái phiếu. Ngoài ra, quy chế cũng quy định một số quyền của doanh nghiệp dự án như quyền thế chấp tài sản; quyền được mua ngoại tệ; đảm bảo cung ứng các dịch vụ công cộng; và bảo lãnh nghĩa vụ của nhà đầu tư. Việc quy định rõ phần vốn tư nhân và phần tham gia của Nhà nước như vậy sẽ đảm bảo được đúng tính chất của dự án PPP, vì thực tế đã có những dự án đầu tư theo hình thức BOT, BT, BTO tại Việt Nam, vốn của Nhà nước tham gia tới 80 – 90%. Bên cạnh đó, Chính phủ đã sử dụng các biện pháp ưu đãi và bảo đảm đầu tư thông qua ưu đãi thuế, quyền mua ngoại tệ hoặc bảo đảm cân đối ngoại tệ, quyền bảo đảm cung cấp các dịch vụ công.
Với khung chính sách đã qua nghiên cứu thông lệ quốc tế, đồng thời đáp ứng các tiêu chí về tính minh bạch, bình đẳng giữa các nhà đầu tư, Chính phủ Việt Nam đặt kỳ vọng thực hiện thành công chính sách đầu tư theo mô hình “Đối tác công tư”, qua đó thu hút khu vực tư nhân với vai trò không chỉ nguồn vốn mà còn tham khảo trình độ công nghệ, kinh nghiệm quản lý của khu vực này nhằm đóng góp cho phát triển kết cấu hạ tầng, dịch vụ công. Vai trò của khu vực tư nhân trong hợp tác công – tư không chỉ là vấn đề cung cấp vốn cho các khu vực công, sự đóng góp không kém phần quan trọng của khu vực tư nhân thuộc về các sáng kiến để giải quyết các vấn đề của dự án cũng như thế mạnh về công nghệ, kỹ thuật và khả năng quản lý, vận hành dự án để đạt được mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng chất lượng dịch vụ. Còn vai trò của Chính phủ là xây dựng một khung pháp lý minh bạch, rõ ràng và công bằng, bên cạnh đó việc đảm bảo một tiến trình phù hợp thể hiện cam kết lâu dài đối với hợp tác PPP cũng làm tăng thêm tính hấp dẫn đối với khu vực tư nhân.
Hoạt động hợp tác công – tư PPP của Việt Nam tuy mới đi vào thực hiện trong mấy năm trở lại đây nhưng đã góp phần giải quyết được vấn đề hiệu quả thấp của đầu tư công, giải quyết vấn đề về vốn trong đầu tư toàn xã hội. Tác động tích cực nhất của hợp tác công - tư PPP là mở ra cơ hội, điều kiện huy động nguồn vốn của khu vực tư nhân vào việc đầu tư cho cơ sở hạ tầng, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, thúc đẩy hoạt động của khu vực tư nhân trong việc góp trách nhiệm cùng với nhà nước khai thác và xây dựng các công trình, hạng mục, dự án công cho sự phát triển của nền kinh tế và xã hội Việt Nam.
----------------------------------------------
Tài liệu tham khảo: - www.mpi.gov.vn
- Các số liệu lấy từ Tổng cục Thống kê
Tác giả: NCV. Nguyễn Thị Mai