Các khu kinh tế (KKT) của Việt Nam chỉ có thể tăng tốc phát triển nếu được đầu tư mạnh mẽ trong thời gian tới. Tuy nhiên, đây là bài toán khó giải khi mà nguồn vốn ngân sách cho đầu tư phát triển hạ tầng KKT vẫn rất khiêm tốn.
Vướng cơ chế
Gần bảy năm qua, ban lãnh đạo KKT mở Chu Lai đã triển khai nhiều biện pháp và chính sách thu hút đầu tư để thúc đẩy sự phát triển của khu này. Tuy nhiên, các kết quả đạt được thì vẫn chưa nhiều. Tính đến tháng 9 năm 2010, toàn KKTë mở Chu Lai có 62 dự án đã cấp phép với tổng số vốn đăng ký gần 1,561 tỉ USD. Tổng vốn thực hiện gần 600 triệu USD, trong đó có 38 dự án đang hoạt động. Với vai trò là khu kinh tế mở đầu tiên của cả nước, hẳn những thành tựu mà Chu Lai đạt được là quá khiêm tốn, như chính thừa nhận của ban quản lý KKT này.
Báo cáo chính thức của KKT mở Chu Lai gửi đến hội nghị toàn quốc về cơ chế chính sách phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất, KKT được tố chức mới đây ghi nhận rằng: “Kết quả mang lại còn khiêm tốn, chưa khẳng định được sức mạnh và lợi thế của KKT mở đầu tiên của Việt Nam, cơ chế chính sách và thể chế còn nhiều bất cập, cơ sở hạ tầng chưa được quan tâm đầu tư đúng mức, công tác bồi thường thiệt hại và giải phóng mặt bằng còn gặp nhiều khó khăn vướng mắc, công tác đào tạo nghề và phát triển nguồn nhân lực chưa được đầu tư toàn diện…”
Trên thực tế, Chu Lai có là KKT mở thật sự hay chưa vẫn còn là một câu hỏi khó trả lời. Quy chế hoạt động của khu kinh tế mở Chu Lai nói riêng cũng như quy chế hoạt động của tất cả các khu kinh tế khác đều quy định ban quản lý các KKTë là cơ quan trực tiếp cấp đăng ký kinh doanh cho các doanh nghiệp trên địa bàn KKT. Luật Doanh nghiệp và nghị định 29/2008/NĐ-CP của Chính phủ cũng quy định ban quản lý các KKT trực tiếp cấp đăng ký kinh doanh cho các doanh nghiệp trong KKTë. Tuy vậy đến nay các bộ, ngành Trung ương vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể việc thành lập Phòng đăng ký kinh doanh tại KKTë cũng như mã số cơ quan cấp đăng ký kinh doanh nên trên thực tế ban quản lý các KKTë không thể thực hiện nhiệm vụ này.
Bên cạnh đó, bộ Công thương chưa uỷ quyền cho ban quản lý KKT mở Chu Lai cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá sản xuất trong KKT mở Chu Lai; cấp, cấp lại, sửa đổi, bổ sung và gia hạn Giấy phép thành lập văn phòng đại diện thương mại của các tổ chức và thương nhân nước ngoài đặt trụ sở tại KKT mở Chu Lai. Tương tự, bộ Văn hóa, thể thao và du lịch chưa ủy quyền cho ban quản lý KKT mở Chu Lai cấp, cấp lại, sửa đổi, bổ sung và gia hạn Giấy phép thành lập văn phòng đại diện, chi nhánh trong KKT mở Chu Lai đối với doanh nghiệp du lịch nước ngoài.
Trong khi đó, theo điều 29 nghị định 29 thì bộ Tài nguyên và môi trường có nghĩa vụ phải ban hành Quy chế quản lý và bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp (KKC), KKT; hướng dẫn việc thu phí bảo vệ môi trường trong KCN, KKT và hướng dẫn ban quản lý thực hiện một số nhiệm vụ quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường trong KCN, KKT theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường”.
Nhưng trong ba nội dung nói trên thì đến nay bộ Tài nguyên và môi trường chỉ mới ban hành thông tư 08/2009/TT-BTNMT ngày 15/7/2009 “Quy định quản lý và bảo vệ môi trường khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu công nghiệp và cụm công nghiệp” nhưng cũng chưa tiến hành tổ chức tập huấn, hướng dẫn thực thực hiện và giải đáp những vướng mắc một số nội dung của thông tư 08 cho các ban quản lý. Bên cạnh đó, ban quản lý không có chức năng thanh tra, kiểm tra và xử phạt các hành vi vi phạm môi trường, Việc thanh tra, kiểm tra chỉ dừng lại ở mức phối kếp hợp với các cơ quan chức năng khác nên dẫn đến công tác thanh tra, kiểm tra bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn quản lý còn kém hiệu quả.
Băn khoăn chuyện phối hợp
Hiện nay thực hiện quản lý nhà nước đối với các KKT được thực hiện tại nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế, theo đó ban quản lý các KKT chỉ quản lý nhà nước về các hoạt động đầu tư đối với các khu chức năng, còn quản lý các vấn đề an sinh, phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn là do UBND các huyện thị.
Tuy nhiên, vấn đề an sinh xã hội, công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, tái định cư, quản lý đất đai, quản lý hiện trạng lại được thực hiện ở tất cả các khâu của quá trình thực hiện đầu tư tại các khu chức năng do ban quản lý thực hiện đầu tư phát triển, như vậy cùng một vấn đề mà phải có hai cơ quan nhà nước quản lý và thực tế trong thời gian qua đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, khó khăn trong quá trình thực hiện nhất là trong phân cấp, phối hợp tổ chức thực hiện và vô hình chung đã làm bộ máy quản lý ở chính quyền địa phương mất đi quyền tự chủ trong xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, công tác cải cách thủ tục hành chính... vì cái gì cũng phải xin ý kiến chỉ đạo của ban quản lý KKT mở Chu Lai trong việc chấp thuận chủ trương đầu tư, cấp giấy chứng nhận đầu tư...
Đây cũng là vấn đề mà KKT Dung Quất đang gặp phải. Theo lãnh đạo KKT Dung Quất, bất cập về mô hình quản lý KKT làm cho vấn đề an sinh xã hội tại địa bàn chưa được giải quyết hợp lý. Nếu như KCN là khu vực có hàng rào cứng, không có dân cư mà chỉ có doanh nghiệp, đối tượng quản lý của KCN là quản lý quy hoạch, đầu tư, xây dựng, môi trường, lao động, thương mại… thì KKT là khu vực có ranh giới mềm, có doanh nghiệp, có dân cư đi kèm với đô thị và các làng xã.
Ở khía cạnh nào đó, KKT gần hơn với một đơn vị hành chính lãnh thổ nhưng không phải là đơn vị hành chính lãnh thổ. Sự khác biệt này chưa bộc lộ trong giai đoạn đầu xây dựng, phát triển KKT Dung Quất. Khi đó, nhiệm vụ chủ yếu là lập quy hoạch, đầu tư phát triển hạ tầng, tiện ích và thu hút đầu tư. Giai đoạn này chưa xuất hiện nhiều lao động, chưa có đô thị, chưa có cảng trên thực tế; việc thực thi nhiệm vụ của ban quản ly KKT Dung Quất vào thời điểm đó chưa xuất hiện sự phức tạp vượt quá phạm vi thẩm quyền.
Tuy nhiên, khi bước vào giai đoạn phát triển mạnh, nhất là kể từ năm 2005 thì tính chất đa ngành, đa lĩnh vực xuất hiện ngày càng rõ, đòi hỏi cơ quan quản lý phải có thẩm quyền đa ngành, đa lĩnh vực mới hoàn thành được nhiệm vụ quản lý. Trong thực tế, KKT khác rất nhiều so với KCN nhưng ban quản lý KKT lại không khác nhiều so với ban quản lý KCN.
Tại Dung Quất, việc thu hồi đất với diện tích lên đến gần 3.000ha đã ảnh hưởng trực tiếp đến hàng ngàn hộ dân, trong đó khoảng 2.630 hộ thuộc diện di dời. Mặc dù 18 khu tái định cư đã được xây dựng, nhưng tình trạng chung còn manh mún, có hạ tầng kỹ thuật nhưng thiếu hạ tầng xã hội, thiếu đất canh tác trong khi việc chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm mới cho người dân bị thu hồi đất còn gặp khó khăn.
Theo khảo sát sơ bộ, trong KKT Dung Quất hiện có 2.123 người chưa có việc làm (chiếm 5,6%), 5.785 người chưa có việc làm ổn định (chiếm 15,18%). Theo khảo sát của UBND huyện Bình Sơn tại 771 hộ tái định cư thì chỉ có 18,15% hộ dân có mức sống khá hơn, 25,16% ngang bằng và 56,67% thấp hơn nơi ở cũ. Riêng mức đền bù của những hộ thuộc diện di dời từ năm 1997 về trước chỉ từ 10 đến 50 triệu/hộ. Diện tích đất canh tác tính trên đầu người chỉ bằng 50% so với nơi ở cũ (khoảng 200 – 300 m2/hộ), chỉ có đất làm nhà và vườn, chưa đủ đất canh tác.
Đối với các KCN, sau khi đã hoàn thành công tác giải phóng mặt bằng, các khu dân cư, khu tái định cư đều nằm ngoài quy hoạch KCN. Nhưng đối với trường hợp KKT Dung Quất, các khu dân cư, khu tái định cư vẫn nằm bên trong KKT. Do vậy, ở một khía cạnh nào đó, vấn đề an sinh xã hội (chuyển đổi nghề nghiệp, tạo việc làm, nâng cao mức sống…) đối với các hộ dân di dời thường được cộng đồng địa phương ngầm mặc định là không chỉ thuộc về trách nhiệm của chính quyền địa phương mà một phần thuộc trách nhiệm của ban quản lý KKT.
Hiện nay, hầu hết các thủ tục đầu tư sau cấp phép đều liên quan đến thẩm quyền giải quyết của các xã, huyện, các sở ban ngành, bao gồm thủ tục đền bù giải phóng mặt bằng, thủ tục đất đai, thủ tục về môi trường, phòng chống cháy nổ, quản lý quy hoạch, xây dựng, lao động. Bất cứ sự ách tắc ở một khâu nào đó cũng dẫn đến sự ách tắc chung. Hậu quả là việc giải quyết thủ tục đầu tư quá lòng vòng do có nhiều cơ quan cùng tham gia quản lý và giải quyết một thủ tục; công tác đền bù giải phóng mặt bằng quá kéo dài và hạ tầng, tiện ích trong KKT và đến hàng rào các nhà máy chưa đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp. Một khi vấn đề này chưa được giải quyết hợp lý thì sẽ tạo ra những tác động tiêu cực đối với môi trường đầu tư. Cụ thể, trước những bất cập về an sinh xã hội như vậy, một bộ phận dân cư không nhỏ đã phản ứng mạnh mỗi khi bị thu hồi đất. Tình trạng khiếu kiện đông người đang ngày càng gia tăng làm ảnh hưởng đến môi trường đầu tư.
Hiện nay, tỉnh Quảng Ngãi đang phối hợp với một số bộ ngành trình Thủ tướng Chỉnh phủ quy hoạch mở rộng KKT Dung Quất lên diện tích hơn 45.000ha và đề xuất áp dụng mô hình thành phố Dung Quất mang tính chất công nghiệp thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Mô hình này có ưu điểm là cho phép gắn kết quản lý kinh tế với quản lý xã hội, môi trường, an sinh xã hội, phù hợp với thông lệ quốc tế, qua đó có thêm kinh nghiệm hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Khi tính chất đa ngành – đa lĩnh vực tại KKT Dung Quất đã thể hiện rõ thì cần thiết phải áp dụng một mô hình quản lý phù hợp để vừa khắc phục những bất cập tất yếu phát sinh trong quaá trình phát triển vừa khai thác lợi thế, tận dụng cơ hội để thu hút đầu tư.
Trên thực tế, Chu Lai có là KKT mở thật sự hay chưa vẫn còn là một câu hỏi khó trả lời. Quy chế hoạt động của KKT mở Chu Lai nói riêng cũng như quy chế hoạt động của tất cả các KKT khác đều quy định ban quản lý các KKT là cơ quan trực tiếp cấp đăng ký kinh doanh cho các doanh nghiệp trên địa bàn KKT.
Trích nguồn: TC ĐTNN