Chủ trương, ý tưởng tốt mà bộ máy triển khai không tốt thì cũng không đạt hiệu quả như ý muốn. Đây là vấn đề hiệu quả của bộ máy hành chính mà lúc này hơn bao giờ hết, Nhà nước nên tập trung cải thiện để không những tạp điều kiện cho người dân vượt khó mà còn là cơ sở cho sự phát triển lâu dài.
Tình hình kinh tế thế giới đang diễn biến như thế nào?
Nói chung là thế giới nghĩ rằng họ đã thấy ánh sáng ở cuối đường hầm và có lòng tin là sẽ có cách vượt qua giai đoạn đên tối này. Tuy nhiên, ngoài đoạn đường gian nan còn lại cần phải vượt qua, vẫn còn một số vấn đề tiềm ẩn mà các nhà hoạch định chính sách còn đang lúng túng tìm hướng giải quyết. Đây là một vấn đề lớn chưa được công bố rộng rãi.
Lâu nay, thị trường tài chính thế giới trực tiếp hoặc gián tiêớ sử dụng hai hệ thống kế toán.
Hệ thống thứ nhất (fair-market accounting) tính giá trị theo thị trường, dựa vào giá trị đã được chứng khoán hóa.
Ở hệ thống thứ hai (hold-to-maturity accounting), trong sổ sách vẫn tính theo giá trị tài sản lúc mua (có thể được điều chỉnh theo chỉ số lạm phát hàng năm) hoặc trên số tiền nợ cho vay.
Theo cách này, giá trị thật chỉ được điều chỉnh khi tài sản được bán hay khi nợ có được trả đủ hay không.
Cách tính theo giá trị chứng khoán hóa của tài sản (fair-market accounting)thường được các công ty chứng khoán cũng như các công ty đầu tư sử dụng. Ở Mỹ có đến 70% tài sản của các công ty chứng khoán đầu tư được tính theo cách này, chỉ có 30% dựa vào cách thứ hai, tức là khi nào thanh toán xong cho các khỏan phải chi, phải thu mới tính.
Điều đáng chú ý là các ngân hàng thương mại chỉ có 30-40% tài sản của họ được tính theo cách này; còn lại đa số tài sản của họ (nợ tín dụng, tài sản hữu hình…) thuộc loại thứ hai, nghĩa là giá trị của số tài sản vẫn còn như cũ trên sổ sách. Nói chung có khoảng 1/3 tổng tài sản của thị trường chứng khoán và ngân hàng được tính theo cách thứ nhất và 2/3 tổng tài sản còn lại được tính theo cách thứ hai.
Thế giới chỉ mới trải qua những vấn đề phát sinh từ những tài sản được chứng khoán hóa (1/3 tổng tài sản) và thêm một phần tài sản của số còn lại, vì vậy hệ thống tài chính thế giới đương nhiên phải trải qua một cơn “sốc” nữa. Giai đoạn đầu (trong gần một năm nay) chỉ mới là hiện tượng phá sản của những tài sản và nợ xấu đã được chứng khoán hóa (được tính theo cách thứ nhất).
Thế giới chỉ mới bắt đầu đi vào giai đoạn thứ hai, khi những nợ cũ rất khó đòi hoặc phải bán đổ bán tháo tài sản để duy trì tính thanh khoản của các công ty và ngân hàng chủ nợ. Giai đoạn thứ hai có thể nặng hơn cả giai đoạn đầu vì số tài sản bị ảnh hưởng trong giai đoạn này lớn gấp đôi số tài sản bị ảnh hưởng trong giai đoạn trước.
Tình hình chứng khóan thế giới có dấu hiệu tương đối khả quan trong quý I/2009 nhờ bởi (1) Tâm lý quần chúng cho rằng cơn khủng hoảng đã qua cơn ngặt nghèo và (2) Chính sách kích cầu và quốc hữu hóa một số nợ xấu đã tạo nên một sự sung mãn nhất thời sau khi nhận được một liều thuốc kích thích.
Nhưng trước mắt, kinh tế thế giới còn phải trải qua một giai đoạn cực kì gian nan và mức cầu của thế giới phải mất một thời gian nữa, ít nhất từ ba đến năm năm mới phục hồi được mức độ của năm 2006. Nếu nói một cách hình tượng thì cuộc khủng hoảng này và giai đoạn phục hồi có lẽ không phải theo hình chữ V, hay chữ U, hay chữ L, mà là chữ W.
Ở nước đầu tàu, gói kích cầu của Mỹ sẽ không có những hiệu ứng có tính đột phá như nhiều người mong đợi là vì phần lớn số tiền kích cầu được đầu tư vào giáo dục, y tế, năng lượng. Đây là những loại đầu tư cần một thời gian dài (5-10 năm) mới thấy được hiệu quả kinh tế.
Phần còn lại là vào những công trình hạ tầng cơ sở sẵn có, không có những dự án lớn như xây dựng hệ thống đường cao tốc xuyên lục địa có khả năng kích cầu nhanh và mạnh, như những dự án dưới thời Tổng thống Eisenhower.
Trong khi đó vấn đề thâm hụt ngân sách ngày càng nặng nề, sẽ tiếp tục là một gánh nặng lớn cho nỗ lực phục hồi và tăng trưởng. Nước Mỹ đang dùng độc trị độc, dùng thêm nợ mới để trị căn bệnh do nợ nần cũ gây ra. Vì liều lượng lớn nên con bệnh sẽ vật vã một thời gian dài và có phục hồi hay không và khi nào cũng còn là một dấu hỏi lớn.
Ngoài những lí do trên, mức độ thất nghiệp sẽ còn tăng vì tỷ lệ thất nghiệp thường vẫn tăng trong hai, ba năm sau khi kinh tế bắt đầu hồi phục. Thất nghiệp cao thì thu nhập thấp, cầu thấp, làm mức tăng trưởng bị giới hạn. Đây là vòng luẩn quẩn cổ điển đầy khó khăn một khi nền kinh tế đã lâm vào tình trạng suy thoái.
Ảnh hưởng gì đến Việt Nam?
Hiển nhiên là Việt Nam không thể được miễn nhiễm với các bệnh tật của nền kinh tế toàn cầu. Kinh tế thế giới có vấn đề thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường xuất khẩu và đầu tư – hai cột trụ trong chiến lược phát triển của Việt Nam. Nhiều năm qua, chúng ta đã chưa phát triển đúng mức thị trường trong nước để giảm mức độ lệ thuộc vào thị trường nước ngoài.
Chúng ta cũng chưa tích lũy được nhiều vốn hoặc tạo được lòng tin vững chắc vào môi trường kinh doanh để huy động được vốn từ dân (còn rất lớn) để tự đầu tư, cho nên vẫn phải kêu gọi đầu tư nhiều từ bên ngoài (là một dạng vay mượn phải trả lãi).
Yếu thì sẽ rất dễ sinh bệnh. Trong những năm tới, nếu tình hình thế giới không hồi phục nhanh thì sẽ phát sinh nhiều vấn đề nan giải mới trong nước. Rủi ro lớn nhất là ở hệ thống tài chính – ngân hàng do tính thiếu minh bạch, chế độ giám sát lỏng lẻo và nguy hiểm nhất là sự nhập nhằng giữa hoạt động ngân hàng thương mại và hoạt động đầu tư (ngân hàng thương mại đầu tư tràn lan trực tiếp vào chứng khoán, nhà đất, vàng…hoặc cho các doanh nghiệp vay đầu tư vào những dự án có độ rủi ro cao). Đây chính là một “gót chân Achilles” của nền kinh tế Việt Nam.
Nếu không kịp thời tách biệt và minh bạch hóa hai hoạt động này thì có lẽ chỉ trong vòng một, hai năm tới, sẽ xuất hiện nguy cơ phá sản nền tài chính ngân hàng mà nếu điều đó có thật thfi Nhà nước cũng không đủ khả năng cứu giúp được.
Mấy tháng qua, mặc dù nền kinh tế của ta chưa có những điều chỉnh cơ cấu cơ bản về mặt vĩ mô, thì những gói kích cầu đã làm “nóng” lại thị trường chứng khoán, thu hút một số tiền lớn từ các nhà đầu tư cá nhân và doanh nghiệp, nhưng đồng thời có thể tạo một rủi ro kép. Một số doanh nghiệp lớn đã đảo nợ đàu tưu vào chứng khoán. Nếu kinh tế thế giới không có dấu hiệu hồi phục mạnh trong vòng vài tháng tới, thì thị trường chứng khoán sẽ “hụt hơi”, rồi lại rơi tự do trở về đáy. Khi đó, doanh nghiệp trong nước vừa chưa có đầu ra vừa phải cõng một số nợ lớn. Kết quả ra sao thì cũng không khó đoán. Khi đó, thêm một số lớn các nhà đầu tư cá nhân lại bị mất vốn một lần nữa từ cuộc chơi chứng khoán. Đây là một hệ quả có ảnh hưởng lớn đến sự ổn định kinh tế xã hội lâu dài.
Từ lâu nay số vốn lớn trong dân là một đĩa đệm làm giảm bớt ảnh hưởng những cái “sốc” suy thoái kinh tế. Số tiền này là nguồn tín dụng nóng cho doanh nghiệp, là nguồn tiết kiệm người dân sử dụng khu thu nhập bị suy giảm, là nguồn đầu tư khi có cơ hội.
Nguồn dự trữ này thật sự có giá trị thực tế cao hơn cả nguồn dự trữ quốc gia khi cần, vì tính năng động của nó – trực tiếp từ dân và cho dân với độ bén nhạy và linh động rất cao. Để nguồn lực này (phần lớn là từ giới trung lưu) cạn kiệt là làm giảm sức đề kháng và khả năng phục hồi của nền kinh tế đất nước.
Ngăn chặn rủi ro
Trước mắt, chúng ta phải tức thời giải quyết một số vấn đề vĩ mô cơ bản.
Đang suy thoái thì phải có biện pháp kích cầu. Vấn đề đầu tiên là nguồn tiền từ đâu ra và nên sử dụng như thế nào?
Nhà nước nên thay thế chính sách tín dụng bù lãi suất (4%) bằng chính sách cấp vốn cho ngân hàng thương mại với lãi suất thấp để ngân hàng có theẻ chod aonh nghiệp vay với lãi suất thấp mà cũng có lãi. Chính sách này sẽ giải quyết áp lực lạm phát, thâm hụt ngân sách, và quan trọng hơn nữa là có sự bình đẳng cho tất cả mọi đối tượng trên mặt bằng lãi suất.
Chủ trương, ý tưởng tốt mà bộ máy triển khai không tốt thì cũng không đạt hiệu quả như ý muốn. Đây là vấn đề hiệu quả của bộ máy hành chính mà lúc này hơn bao giờ hết, Nhà nước nên tập trung cải thiện để không những tạp điều kiện cho người dân vượt khó mà còn là cơ sở cho sự phát triển lâu dài.
Mỗi hoạt động kinh tế đều phải đi qua hệ thống ngân hàng, là huyết mạch của nền kinh tế. Cơ cấu ngân hàng trong nước đang có vấn đề mang tính hệ thống, từ sự thiếu minh bạch đến sự nhập nhằng giữa các hoạt động đầu tư và hoạt động ngân hàng tiết kiệm, thương mại như đã nêu trên.
Tâm lý ỷ lại (không thể bị để chết vì mình quá quan trọng) cùng động cơ lợi nhuận, tận dụng mọi cơ hội kinh doanh, đang làm cho các ngân hàng trong nước chấp nhận các rủi ro không những tự chôn sống mình mà còn kéo theo cả hệ thống tài chính kinh tế. Có hệ thống rạch ròi thì mới có khả năng giám sát hiệu quả.
Chuyên gia ngân hàng Huỳnh Bửu Sơn trong một bài viết cho thấy từ cuối năm ngoái, hệ thống ngân hàng đã qua một cơn nguy kịch như “trứng để đầu gậy”. Cuộc khủng hoảng đã cứu các ngân hàng qua liều thuốc tiên: Nhà nước nới lỏng chính sách tiền tệ và gói kích cầu hỗ trợ lãi suất. Nhưng những vấn đề cơ bản vẫn còn đó.
“Đừng quên những bài học căn bản trong điều hành ngân hàng: không nên lấy ngắn nuôi dài; không nên lấy tiền thực để nuôi các tài sản ảo, không nên cho vay dựa trên quan hệ thân hữu, không nên mù quáng theo đuổi lợi nhuận…”, “Cơ may không đến nhiều lần”.
Ngoài sự can thiệp cần thiết của Nhà nước, các ngân hàng cần nhận thức rằng hoạt động kinh doanh rủi ro, cộng với môi trường vĩ mô đầy biến động, đang tiềm ẩn một hệ lụy không lường được với một quy mô mà có lẽ Nhà nước lúc đó cũng không gánh nổi.
Theo Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần