Số vụ tranh chấp thương mại được đưa ra giải quyết tại các trung tâm trọng tài của Việt Nam đến nay còn quá khiêm tốn, thậm chí có trung tâm trọng tài từ khi thành lập đến nay vẫn chưa giải quyết bất kỳ một vụ tranh chấp nào. Số liệu do Bộ Tư pháp đưa ra tại Hội thảo công bố Luật Trọng tài thương mại 2010 (sáng 20/7) đã phần nào phản ánh được thực trạng này. Theo đó, chỉ có Trung tâm Trọng tài Quốc tế VN là tổ chức có số vụ tranh chấp thụ lý cao nhất (khoảng 20 vụ/năm).
Trong khi đó, số vụ tranh chấp tại tòa án ngày càng quá tải, năm sau luôn tăng gấp đôi năm trước. Theo thống kê, năm 2007, Tòa án Nhân dân Tp Hà Nội thụ lý gần 9.000 vụ án, trong đó có khoảng 300 vụ án kinh tế, Tòa án kinh tế Tp.HCM phải xử gần 42.000 vụ án các loại trong đó có 10.00 vụ án kinh tế. Như vậy, tính trung bình mỗi thẩm phán ở Tòa án kinh tế Hà Nội phải xử 30 vụ/năm và mỗi thẩm phán ở Tòa án kinh tế TP.HCM xét xử 50 vụ/năm, trong khi đó mỗi trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam chỉ xử 0,25 vụ/năm.
Khảo sát của Bộ Tư pháp đối với 237 cá nhân, tổ chức kinh doanh thì có đến 57,8% ý kiến cho rằng hình thức giải quyết tranh chấp ưu tiên của họ là thương lượng. 46,8% ý kiến ưu tiên lựa chọn tòa án, 22,8% ý kiến chọn hòa giải và chỉ có 16,9% ý kiến cho biết sẽ sử dụng trọng tài thương mại.
Các trung tâm trọng tài và trọng tài viên cho rằng, có rất nhiều lý do dẫn đến việc trọng tài ít được… nhớ đến trong các vụ tranh chấp thương mại. Trong đó có 3 lý do được nói đến nhiều nhất đó là hiệu lực thi hành của quyết định trọng tài thấp (61,4%), nhiều người chưa tin tưởng phương thức này (68,6%), và có rất nhiều người chưa biết đến phương thức giải quyết tranh chấp thương mại thông qua trọng tài (74,3%).
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tòa án và cơ quan thi hành án có nhiệm vụ hỗ trợ các hoạt động trọng tài thương mại. Song thực tế phần lớn các trọng tài chưa nhận được sự hỗ trợ cần thiết từ các cơ quan này. Một trong những nguyên nhân được đề cập đến nhiều nhất đó là quy định pháp luật hiện hành chưa phù hợp. Pháp lệnh Trọng tài thương mại được Quốc hội ban hành tháng 2/2003, sau một thời gian áp dụng đã bộc lộ nhiều điểm chưa tương thích với các văn bản pháp luật hiện hành, cũng như chưa đáp ứng nhu cầu thực tiễn kinh doanh.
Luật Trọng tài cần sớm đi vào cuộc sống
Xuất phát từ thực tế nêu trên, tháng 6/2010, Quốc hội đã chính thức thông qua Luật Trọng tài thay thế cho Pháp lệnh Trọng tài thương mại. Sáng 20/7, tại Hội thảo công bố Luật Trọng tài Việt Nam, đại diện Ban soạn thảo cho biết, sau khi thông qua, Luật sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2011.
Theo đánh giá của Hội Luật gia Việt Nam, Luật Trọng tài đã khắc phục việc phân định không rõ ràng phạm vi thẩm quyền của trọng tài đối với các tranh chấp thương mại, cũng như mở rộng phạm vi thẩm quyền của trọng tài tới nhiều loại tranh chấp liên quan đến quyền và lợi ích của các bên. "Đây là một trong những điểm mới quan trọng nhất của Luật so với Pháp lệnh năm 2003 và hoàn toàn phù hợp với thực tiễn sử dụng trọng tài của các nước trên thế giới" - LS Trần Hữu Huỳnh, Trưởng ban Pháp chế Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), kiêm Phó Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) nhận xét. Các quy định về vô hiệu của thoả thuận trọng tài cũng đã được giảm ở mức tối thiểu, tôn trọng tối đa ý kiến của các bên và thoả thuận của trọng tài cho phù hợp với thực tiễn của Trọng tài thương mại quốc tế.
Bên cạnh đó, quy trình tố tụng được nâng cao, đảm bảo tôn trọng tính chất linh hoạt, quyền tự do của các bên trên tinh thần nhanh, gọn, dứt điểm. Đặc biệt, chỉ một số trường hợp nhất định mới được phép huỷ quyết định của trọng tài và thủ tục tố tụng của toà án chỉ cho phép một lần xem xét chứ không để xem xét nhiều lần và kéo dài như trước.
Theo đánh giá chung của nhiều chuyên gia, Luật Trọng tài Thương mại 2010 đã có nhiều điểm đột phá so với các văn bản dưới luật được ban hành trước đó, thể hiện được tham vọng "lột xác" để trở thành một công cụ hữu hiệu trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại.
Trích nguồn: KTĐT