NCEIF- Theo nhận định của các chuyên gia tài chính, khi mà tình hình kinh tế vĩ mô chưa mấy sáng sủa, các doanh nghiệp tiếp tục gặp nhiều khó khăn dẫn đến khả năng trả nợ bị suy giảm thì nguy cơ nợ xấu ngân hàng gia tăng sẽ bộc lộ rõ ở giai đoạn cuối năm. Tính đến 20/6/2011, theo Ngân hàng nhà nước (NHNN), nợ xấu toàn hệ thống ngân hàng hiện chiếm 2,37% tổng dư nợ, tăng 0,2% so với cuối năm 2010 (2,17%). Theo Nghị quyết 11, dư nợ tín dụng phi sản xuất phải đưa về mức 22% trước ngày 30/6. Trong cuộc chạy đua về mức tín dụng này, các ngân hàng đã phải triệt để thắt các khoản vay phi sản xuất, bên cạnh đó khẩn trương thu hồi vốn. Theo các ngân hàng, các khoản nợ xấu bắt đầu lộ diện, nguy cơ nợ xấu gia tăng sẽ bộc lộ rõ hơn trong các tháng cuối năm.
Có nhiều lý do cho thấy nguy cơ nợ xấu ngân hàng gia tăng trong các tháng cuối năm, từ lý do từ phía tình kinh tế vĩ mô nói chung, từ phía doanh nghiệp và cả từ phía các ngân hàng. Trước hết, tình hình kinh tế vĩ mô nói chung chưa mấy sáng sủa, lạm phát vẫn ở mức cao và vẫn có chiều hướng gia tăng, lãi suất cho vay vẫn ở mức rất cao (từ 20-24%) và chưa có dấu hiệu giảm, điều này ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thanh toán nợ ngân hàng của nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Để đối phó với khủng hoảng tài chính toàn cầu và suy giảm kinh tế, các gói hỗ trợ tín dụng đã được tăng cường, tuy nhiên, một lượng tiền đã chảy vào các doanh nghiệp yếu mà trong điều kiện bình thường, các doanh nghiệp này khó có thể vay vốn. Các khoản vay của các doanh nghiệp này trở thành các khoản nợ xấu ngân hàng. Thêm nữa, nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng trong bối cảnh tình hình kinh tế vĩ mô chưa ổn định, lạm phát tăng cao, các doanh nghiệp vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn thì nợ xấu gia tăng cũng không lạ. Với thị trường tiêu thụ hàng hóa bị thu hẹp, sản xuất đình trệ khiến cho tình hình tài chính của doanh nghiệp càng xấu thêm. Theo cách phân loại nợ hiện nay của NHNN, nợ của các ngân hàng được chia thành 5 nhóm. NHNN tính nợ xấu từ thời điểm khi người vay không trả được nợ, phân loại nợ xấu từ nhóm 2 đến nhóm 5 theo số ngày tính từ ngày người vay đáng ra phải trả nợ. Hiện nay, nhiều khoản nợ chuyển từ nhóm 1 sang nhóm 2, 3, thậm chí sang cả nhóm 4, 5 trở thành nợ xấu ngân hàng. Về phía ngân hàng, trong thời gian qua, với áp lực tăng vốn, nhiều ngân hàng tìm mọi cách để tăng trưởng nhanh, đặc biệt là đã nới lỏng các tiêu chuẩn cho vay dẫn đến các khoản nợ xấu tăng nhanh. Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, hệ quả này mới càng thể hiện rõ.
Theo tổ chức định mức tín nhiệm Fitch Rating, tỷ lệ nợ xấu của Việt Nam là 13% trong khi con số này do NHNN tính toán chỉ là 2,37% (tính đến 20/6). Theo các tiêu chuẩn quốc tế thì tỷ lệ nợ xấu được tính toán khác với cách tính của Việt Nam. Dựa vào kinh nghiệm và quá trình theo dõi, giám sát hoạt động của doanh nghiệp, giám sát việc sử dụng các khoản vay của doanh nghiệp, họ đưa ra dự đoán khả năng trả nợ của doanh nghiệp và phân loại nợ ngay từ khâu này. Theo cách này, việc ghi nhận các khoản nợ xấu có thể sẽ sớm hơn theo cách của Việt Nam. Như vậy, tỷ lệ nợ xấu trên thực tế có thể sẽ cao hơn rất nhiều so với con số được công bố của NHNN. Fitch Rating có cách tính toán nợ xấu theo cách nhìn từ nước ngoài vào Việt Nam, thông qua những câu chuyện về nợ xấu như Vinashin, có thể có những trường hợp tương tự như vậy vẫn đang tiềm ẩn trong nền kinh tế.
Các chuyên gia kinh tế nhận định rủi ro hệ thống tài chính mang tính hệ thống, có nghĩa là nếu một đổ vỡ không được xử lý tốt sẽ kéo theo cả hệ thống bị ảnh hưởng theo. Như vậy, trong trường hợp nợ xấu ngân hàng tăng quá cao sẽ dẫn đến nguy cơ đổ vỡ hệ thống ngân hàng. Những đối tượng tham gia hệ thống tài chính đều bị ảnh hưởng: các ngân hàng thương mại, doanh nghiệp dù hoạt động tốt hay không và người gửi tiền đều chịu thiệt hại. Khi rủi ro hệ thống gia tăng đến mức nào đó sẽ dẫn đến khủng hoảng tài chính, khủng hoảng kinh tế, dẫn đến nhiều hệ lụy cho nền kinh tế.
Trong thời điểm hiện nay, việc quản lý nợ xấu và giảm tỷ lệ nợ xấu của nền kinh tế là việc cần thiết. Tiếp đó, cần phải nhanh chóng nâng cao năng lực quản trị rủi ro của các định chế tài chính và hệ thống giám sát tài chính của Việt Nam, trong đó có vai trò của CIC (Trung tâm Thông tin Tín dụng) và NHNN là quan trọng. Đồng thời, cần xây dựng hệ thống cảnh báo sớm cùng những phương án xử lý nếu xảy ra sự cố trong hệ thống tài chính - ngân hàng, để hạn chế thiệt hại của những bên trực tiếp liên quan và đặc biệt là giảm thiểu rủi ro mang tính hệ thống do tính lan tỏa của rủi ro tài chính.
---------------------------------
Tài liệu tham khảo:
www.vneconomy.vn
www.vnexpress.net
www.baomoi.com
Tác giả: NCV. Hoàng Yến