NCEIF - Các nhà kinh tế học trên thế giới đã chỉ ra rằng, các quốc gia luôn tồn tại hai nền kinh tế, một nền kinh tế chính thức và một nền kinh tế “ngầm”. Không nằm ngoài ngoại lệ, Việt Nam cũng tồn tại song song 2 loại hình kinh tế nói trên.
Có thể lý giải nền kinh tế chính thức là nền kinh tế mà Chính phủ và các thể chế tài chính định lượng được Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), các thu nhập về thuế, các đóng góp về an sinh xã hội, xác định được số lượng việc làm và những chỉ tiêu khác. Trong khi đó, nền kinh tế ngầm hay còn gọi là nền kinh tế phi chính thức là tất cả các khoản tiền và việc làm được tạo ra bên ngoài nền kinh tế chính thức, bất kể việc nền kinh tế này được cho là hợp pháp hay bất hợp pháp.
Kinh tế ngầm là khái niệm không xa lạ gì đối với các nước đang phát triển, nhưng lại là một hiện tương mới ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường như ở Việt Nam. Quá trình chuyển đổi đã làm bùng phát nhiều mối quan hệ thị trường phức tạp trên cơ sở nền kinh tế đa thành phần, đa sở hữu, cộng với sự non trẻ và thiếu kinh nghiệm của một thể chế quản lý mới…tất cả đã tạo điều kiện hình thành một khu vực kinh tế hoàn toàn nằm ngoài sự quản lý của Nhà nước đó là khu vực kinh tế ngầm. Diện mạo kinh tế ngầm ở Việt Nam hiện nay khá đa dạng, đó là:
- Những hộ kinh doanh nhỏ, thu nhập thấp không phải đăng ký kinh doanh theo qui định của pháp luật;
- Các hộ kinh doanh cá thể không đăng ký kinh doanh. Số này chiếm khá lớn, ước tính đến hơn một nửa số hộ kinh doanh cá thể hiện nay không đăng ký kinh doanh theo qui định của pháp luật. Taxi “dù”, xe khách “dù” là trường hợp điển hình của loại này;
- Có đăng ký kinh doanh, nhưng hoạt động kinh doanh không đúng theo qui định của pháp luật. Loại này cũng có nhiều dạng như: (1) kinh doanh các ngành, nghề ngoài ngành, nghề đăng ký kinh doanh; (2) không ghi chép và báo cáo tất cả các hoạt động kinh doanh, giấu doanh thu, lợi tức; (3) có thuê lao động nhưng không hợp đồng lao động, không đăng ký lao động; (4) kinh doanh các ngành, nghề phải có giấy phép mà không xin phép...
- Kinh doanh các ngành, nghề tư nhân không được quyền kinh doanh.
Lợi ích của kinh tế ngầm
Không như các đơn vị quốc doanh phải dựa vào đồng tiền nhà nước, các công ty cổ phần tìm đồng vốn từ ngân hàng thương mại, khu vực kinh tế ngầm tự xoay xở đồng vốn trong dân bằng nhiều hình thức khác nhau. Khu vực này tuy không tạo nên những kỳ tích về kinh tế, nhưng đã để lại những dấu ấn quan trọng trong quá trình phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Đây là khu vực kinh tế bung ra sớm nhất, mạnh nhất và với tốc độ nhanh nhất khi chúng ta bắt đầu công cuộc đổi mới giữa thập niên 80 của thế kỷ trước. Đây cũng là khu vực kinh tế đóng vai trò quan trọng đưa nền kinh tế Việt Nam vượt qua thời kỳ khó khăn đầu thập niên 90 của thế kỷ trước. Khu vực này đã lấp được khoảng trống thiếu hụt về việc làm và thu nhập đối với một bộ phận lớn lao động. Với đặc thù là linh hoạt, đòi hỏi ít vốn và tận dụng các nguồn lực khác, khu vực kinh tế ngầm đã đóng vai trò quan trọng trong những nỗ lực xóa đói giảm nghèo trong cộng đồng.
Những cuộc khảo sát của các định chế cho thấy kinh tế ngầm được sự hỗ trợ của đồng vốn trong dân mà số liệu ước tính có thể chiếm đến phân nửa GDP tiềm ẩn dưới dạng vàng, đô la và bất động sản. Điều này giải thích tại sao nền kinh tế Việt Nam mặc dù trải qua nhiều biến động do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính, kinh tế thế giới nhưng đời sống người dân vẫn không bị tác động mạnh, thậm chí một bộ phận không nhỏ người lao động đã có cuộc sống khá hơn.
Tác hại của kinh tế ngầm với các doanh nghiệp và nền kinh tế quốc dân
Bên cạnh những lợi ích mà kinh tế ngầm mang lại thì tiềm ẩn trong nó là hàng loạt bất lợi cho chính bản thân doanh nghiệp và cho nền kinh tế Việt Nam nói chung:
Thứ nhất, kinh tế ngầm hạn chế cơ hội và qui mô kinh doanh do mối quan hệ góp vốn chủ yếu dựa trên quan hệ gia đình, họ hàng, thân quen, không thể phát triển đến qui mô lớn để tận dụng được lợi thế qui mô.
Thứ hai, kinh tế ngầm tạo ra dư địa lớn cho công chức nhà nước sách nhiễu, đòi hối lộ và lạm dụng quyền lực phục vụ ý đồ, lợi ích cá nhân.
Thứ ba, kinh tế ngầm tác động bất lợi đến môi trường kinh doanh:
- Tạo ra môi trường kinh doanh không bình đẳng, không đáng tin cậy, bất lợi cho người kinh doanh trung thực, bất lợi cho khu vực chính qui.
- Tạo nên những yếu tố bất ổn, không lường hết rủi ro khi quyết định đầu tư.
- Không khuyến khích và thúc đẩy tính sáng tạo, không khuyến khích đầu tư dài hạn, đầu tư qui mô lớn, đầu tư phát triển nguồn nhân lực...
Thứ tư, kinh tế ngầm sẽ không cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác để hoạch định các chính sách vĩ mô hợp lý; hiệu lực của các chính sách, hiệu lực quản lý nhà nước, hiệu lực luật pháp cũng hết sức hạn chế, thậm chí bị chệch hướng, vô hiệu hóa.
Thứ năm, kinh tế ngầm sẽ làm cho doanh nghiệp và sản phẩm giảm năng lực cạnh tranh cả ở tầm quốc gia, khó có thể hội nhập được với các hoạt động thương mại quốc tế để tận dụng hết được các cơ hội có được nhờ hội nhập, và rất dễ bị ra khỏi dòng vận động của kinh tế quốc tế, trở thành “ngoại vi” của nó. Một nền kinh tế như vậy có nguy cơ đẩy nước ta càng tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước khác, kể cả các nước trong khu vực.
Một số giải pháp
Trước hết, cần thay đổi tư duy và quan điểm “bên trọng, bên khinh”. Các loại hình doanh nghiệp khác nhau trong nền kinh tế có những điểm mạnh, yếu khác nhau bổ sung cho nhau. Thị trường phát triển ngày càng cao và đa dạng thì sự luân chuyển nguồn lực, hàng hóa các loại ngày càng hiệu quả và linh hoạt.
Hai là, nên mở rộng tối đa, khuyến khích và hỗ trợ quyền kinh doanh của người dân. Xây dựng và áp dụng thống nhất một hệ thống luật pháp đối với tất cả các loại hình doanh nghiệp, không phân biệt Nhà nước với tư nhân, không phân biệt trong nước với ngoài nước. Thực hiện công bằng và bình đẳng về quyền kinh doanh: xóa bỏ hết các dư địa hay khu vực mà ở đó chỉ có doanh nghiệp nhà nước mới được quyền kinh doanh; xóa bỏ hết các hạn chế và tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp tư nhân thực hiện được quyền kinh doanh, mà lâu nay chưa thực hiện được (ví dụ quyền liên doanh với nhà đầu tư nước ngoài).
Ba là, thực hiện công bằng và bình đẳng về quyền tài sản, xóa bỏ các hạn chế đối với doanh nghiệp tư nhân trong tiếp cận đến các quyền về tài sản mà hiện chỉ doanh nghiệp nhà nước mới có. Thực hiện công bằng và bình đẳng về chính sách, chế độ ưu đãi; xem xét và bãi bỏ hết các “bao cấp” hiện đang dành cho doanh nghiệp nhà nước; (trường hợp còn chế độ bao cấp theo mục tiêu thì áp dụng chung cho các doanh nghiệp không phân biệt chế độ sở hữu).
------------------------
Tài liệu tham khảo: - TSKH Nguyễn Văn Minh, “Kinh tế ngầm và vị trí của nó trong nền kinh tế quốc dân”, Tạp chí Kinh tế đối ngoại số 37/2009.
- http://vietbao.vn/Xa-hoi/Tang-bang-kinh-te-ngam/40008092/157/
- http://www.businessweek.com/
Trích nguồn: NCEIF
Tác giả: Phương Ly