NCEIF - Ngân hàng Thế giới (WB) cho biết: tổng dư nợ tín dụng của khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam (còn gọi là nợ tư) hiện ở mức tương đương 125% tổng thu nhập quốc nội (GDP). Đây là tỷ lệ thuộc loại cao nhất khu vực và mức nợ tư tăng cao sẽ kéo theo những cảnh báo liên quan đến rủi ro về nợ xấu của ngân hàng.
Cũng theo WB, tỷ lệ này tăng rất nhanh trong những năm qua: từ 35% GDP năm 2000 lên 71,2% năm 2006, 93,4% năm 2007, 90,2% năm 2008, 112,7% năm 2009 và tới 125% năm 2010. Đáng chú ý là, chưa có thông tin vì sao tỷ lệ này lại tăng nhanh trong những năm vừa qua. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng, đó là do bong bóng bất động sản, giá đất tăng, tín dụng cho địa ốc tăng nên tổng tín dụng tăng theo.
Theo tính toán, GDP của Việt Nam theo công bố chính thức hiện ở mức khoảng 106 tỷ USD. Trong khi nợ tư chiếm tới 125% GDP, tương đương khoảng hơn 131 tỷ USD. Với lãi suất như hiện nay thì mỗi năm các doanh nghiệp có nợ tư này phải trả lãi suất tiền vay khoảng trên 20 tỷ USD. Trong bối cảnh kinh tế khó khăn như hiện nay, các doanh nghiệp khó hoàn thành được việc trả nợ và lãi đúng hạn.
Còn theo Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội thì: dự báo về nợ tư của WB được đưa ra trong bối cảnh hàng loạt vụ nỡ vợ xảy ra ở Hà Nội và các địa phương thời gian qua là cảnh báo rất nghiêm túc đối với hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, các số liệu công bố trên cần phải xem xét cẩn thận. Ngoài ra, cần chú ý đặc biệt đến các khoản nợ xấu của doanh nghiệp biến thành nợ khó đòi hiện đã tới mức nào và cần giải quyết ra sao. Nợ xấu hiện phân bổ không đều ở các ngân hàng và điều này phản ánh năng lực hoạt động của ngân hàng trong việc thẩm định, xét duyệt hồ sơ cho vay và kiểm soát nguồn vốn vay cũng như hỗ trợ khách hàng. Chính vì vậy, cần xử lý nhanh các khoản nợ xấu của những ngân hàng nhỏ, không để lây lan sang các ngân hàng khác. Các ngân hàng lớn cũng cần xem lại việc quản lý rủi ro của mình.
Trước dự báo cuối năm 2011, mức nợ công của Việt Nam sẽ ở mức 54,6% GDP, nhiều ý kiến của đại biểu Quốc hội Khóa XIII, kỳ họp thứ 2 nhìn nhận: đây là mức cao và cần thiết có những cảnh báo. Tuy nhiên, một số ý kiến lại cho rằng, nợ công của Việt Nam hiện vẫn ở mức an toàn.
Trong báo cáo của Chính phủ, tính đến 31/12/2010, tỷ lệ nợ Chính phủ là 45,7% GDP, nợ nước ngoài là 42,2% và nợ công là 57,3%. Còn theo báo cáo kế hoạch trình Quốc hội, nợ công ước đến ngày 31/12/2011 là 54,6%; đến ngày 31/12/2012 là 58,4% và chỉ số này được tính trên cơ sở dự kiến kịch bản tăng trưởng 6%. Nếu như kịch bản tăng trưởng đạt được 6,5% thì tỷ lệ nợ công này sẽ giảm thấp hơn đáng kể.
Cũng theo Báo cáo tại Quốc hội thì, nợ nước ngoài của Việt Nam chiếm 58% và đang có xu hướng giảm trong cơ cấu, còn nợ trong nước là 42% và có xu hướng đang tăng lên. Ông Vương Đình Huệ - Bộ trưởng Bộ Tài chính cho biết: Đây là một xu hướng tốt, cho thấy Việt Nam đang giảm được sự lệ thuộc vào nước ngoài và chủ động hơn trong việc vay nợ. Về cơ cấu nợ công trong tổng nợ công của Việt Nam, nợ ODA chiếm 75%, “vay ưu đãi” khác là 19%, “vay thương mại” là 7%, trong khi đó, 75% nợ ODA của Việt Nam lại có thời gian vay rất dài và lãi suất được ưu đãi. Tuy nhiên, có một điểm đáng lưư ý là các khoản vay ODA và ưu đãi của Việt Nam đang giảm dần, trong khi vay thương mại đang có xu hướng tăng lên, đòi hỏi Chính phủ tính toán kỹ vấn đề này để có chiến lược, kế hoạch quản lý nợ công thích hợp cho từng giai đoạn.
Tác giả: Vân Anh