Tình hình kinh tế sáu tháng đầu năm đang chuyển biến theo chiều hướng tích cực, thể hiện qua nhiều chỉ tiêu kinh tế vĩ mô khả quan như tăng trưởng GDP, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp, dịch vụ, cán cân xuất nhập khẩu... Tuy nhiên, chúng ta không thể chủ quan trước những kết quả đã đạt được bởi những nguy cơ như thâm hụt ngân sách, tái lạm phát... đang còn.
Cảnh báo nguy cơ tái lạm phát
Việc Chính phủ triển khai các gói kích cầu đầu tư và tiêu dùng để khắc phục hậu quả của khủng hoảng là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp tình hình kinh tế Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, do chính sách điều hành tiền tệ được nới lỏng cùng với việc triển khai các gói kích cầu nên một lượng tiền lớn được đẩy vào lưu thông khiến cung tiền bị đẩy lên cao làm tăng nguy cơ tái lạm phát, nhất là khi những dòng vốn này không được sử dụng hiệu quả.
Trước hết, để ngăn chặn suy giảm kinh tế, Chính phủ đã thực hiện nhiều biện pháp để kích cầu đầu tư và tiêu dùng, tăng cung tiền trong nền kinh tế thông qua việc hỗ trợ lãi suất và miễn giảm thuế. Nếu nguồn tiền này được sử dụng hiệu quả thì sẽ kích thích sản xuất kinh doanh trong nước, tạo nguồn hàng phong phú, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân..., theo đó, không tạo áp lực làm tăng lạm phát. Khi lượng tiền cung ứng lớn, nếu chi tiêu Chính phủ kém hiệu quả thì không những không thúc đẩy sản xuất hiệu quả, mà còn làm tăng nguy cơ xảy ra lạm phát, kéo theo nhiều hậu quả khác như tăng bội chi ngân sách, ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội... Do đó, cần xem xét lại nên kéo dài thời gian hỗ trợ lãi suất trong bao lâu, nên tiếp tục hỗ trợ những ngành nào, ngừng hỗ trợ những ngành nào...
Bên cạnh đó, một khả năng nữa khiến lạm phát có thể quay trở lại đó là tốc độ tăng trưởng tín dụng trong những tháng qua tăng mạnh. Trong bối cảnh khó khăn như hiện nay, mức tăng trưởng tín dụng như vậy là tốt, nhưng tăng quá nhanh và mạnh cũng là dấu hiệu cảnh báo nguy cơ lạm phát. Ngoài ra, bắt đầu từ quý III tới, nhu cầu sản xuất và tiêu dùng có thể tăng lên khi kinh tế có dấu hiệu hồi phục.
Một yếu tố khác không kém phần quan trọng là sự phụ thuộc của Việt Nam vào xuất, nhập khẩu. Khi giá cả thế giới tăng, do vẫn phải tiếp tục nhập khẩu nguyên vật liệu để sản xuất và chế biến nên kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam cũng tăng, theo đó, đẩy giá hàng hóa trong nước tăng lên. Vừa qua, kinh tế thế giới có dấu hiệu phục hồi, nhiều mặt hàng nhập khẩu đã tăng giá. Hơn nữa, đứng trước sự suy yếu của đồng USD, khiến các nhà đầu tư lo ngại nguy cơ khủng hoảng tiền tệ làm tăng khả năng lạm phát trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Thâm hụt ngân sách có thể tăng hơn dự kiến
Các gói kích cầu đang được Chính phủ triển khai đã khiến ngân sách nhà nước phải đối mặt với nhiều khó khăn. Dự kiến thu ngân sách cả năm sẽ giảm khoảng 29 nghìn tỷ đồng đến 63 nghìn tỷ đồng so với dự toán trong khi sức ép chi vẫn còn rất lớn. Nếu bội chi ngân sách ở mức 8% GDP thì dư nợ sẽ ở mức khoảng 40% GDP, là mức thâm hụt ngân sách rất cao, trong khi các nguồn thu chính như từ dầu thô và thuế giảm mạnh, càng gây sức ép đối với việc bù đắp sự thiếu hụt của ngân sách.
Theo nhận định của các chuyên gia, gói kích thích kinh tế mạnh có thể ảnh hưởng xấu đến tính bền vững của ngân sách nhà nước. Nếu đưa quá nhiều tiền ra đầu tư cùng với chính sách tài khóa, tiền tệ nới lỏng trong một thời gian dài sẽ khiến tỷ lệ bội chi ngân sách cao, dẫn đến nguy cơ tái lạm phát. Thâm hụt ngân sách tăng còn là hệ lụy dẫn đến giảm đầu tư tư nhân hay gia tăng thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai.
Về hiệu quả đầu tư
Những năm qua, hệ số ICOR của Việt Nam luôn dao động ở mức cao (năm 2005 là 4,85; năm 2006 là 5,04; năm 2007 là 5,38 và năm 2008 tiếp tục tăng cao 6,68) và cao hơn hẳn so với các nước trong giai đoạn phát triển tương tự. Ðiều đó chứng tỏ hiệu quả đầu tư ở nước ta còn thấp, có thể vì nhiều nguyên nhân khác nhau như công tác quản lý, quy hoạch đầu tư kém, tham nhũng và đầu cơ quá nhiều; trình độ khoa học - kỹ thuật áp dụng hạn chế...
Ðể kiềm chế lạm phát trong nửa đầu năm 2008, việc nâng cao hiệu quả đầu tư được đặt lên hàng đầu, các dự án đầu tư được xem xét cắt giảm nhằm khắc phục tình trạng đầu tư tràn lan, thất thoát, lãng phí. Khi khủng hoảng kinh tế xảy ra, thực hiện kích cầu đầu tư, một khối lượng tiền lớn tập trung đầu tư vào lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng trong khi tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm sút nên chỉ số ICOR ngày càng gia tăng. Một lần nữa, hiệu quả của các dự án đầu tư này cần được xem xét kỹ lưỡng, bảo đảm đầu tư đúng mục đích, hạn chế tình trạng đầu tư dàn trải, không hiệu quả, đặc biệt chú ý tới tình trạng những dự án đầu tư không hiệu quả đã bị cắt giảm đợt trước lại được tái cấp vốn.
Mức sống của người dân giảm
Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, công nhân thiếu việc làm, thu nhập giảm nên mức sống của dân cư cũng giảm đáng kể, nhất là khu vực nông thôn. Nhiều người dân đang gặp khó khăn, thu nhập giảm do các doanh nghiệp đang chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu. Tại các công ty nước ngoài, tiền lương nhà tuyển dụng trả cho lao động giảm từ 15 đến 50%. Tình trạng công nhân thất nghiệp tại các khu công nghiệp, khu chế xuất ngày càng nhiều. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội dự đoán tình huống xấu nhất số người mất việc làm trên cả nước vào cuối năm nay sẽ là 400 nghìn người. Trong khi đó, thu nhập của người nông dân sản xuất những sản phẩm nông nghiệp đang giảm tương đối do thị trường tại các đối tác nhập khẩu giảm mạnh.
Thêm vào đó, mức thu nhập thực tế của số đông nhân dân còn giảm do mặt bằng hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng vẫn ở mức cao. Chỉ số giá tiêu dùng thuộc nhóm hàng lương thực, thực phẩm đã tăng lên đáng kể, gây thêm khó khăn cho những người dân nông thôn có mức thu nhập thấp.
Như vậy, chúng ta không chỉ tập trung vào việc ngăn chặn suy giảm kinh tế mà còn phải chú ý đến mức sống của dân cư.
Theo ND