Thị trường hàng hóa, dịch vụ xã hội cả nước 6 tháng đầu năm tiếp tục ổn định và tăng trưởng.Tổng mức bán lẻ tháng 6 đạt khoảng 127,543 nghìn tỷ đồng, tăng 1,1% so với tháng 5. Tính chung 6 tháng đầu năm ước đạt 747,4 nghìn tỷ đồng, tăng 26,7% so với cùng kỳ năm 2009
Xét theo loại hình kinh tế, khu vực Nhà nước có mức tăng trưởng cao nhất 44,9%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 41,1%; khu vực ngoài Nhà nước tăng 24,4%. Xét theo lĩnh vực, thương nghiệp tăng 27,6%; du lịch dịch vụ tăng 24,8%; khách sạn, nhà hàng tăng 22,1% so với cùng kỳ.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 6 tăng nhẹ ở mức 0,22% so với tháng 5. Do ảnh hưởng của thời tiết mùa hè nóng bức, dịch bệnh gia súc gia cầm vẫn xảy ra, nên một số nhóm hàng như thực phẩm, ăn uống, thiết bị đồ dùng gia đình, giải trí và du lịch tiếp tục tăng giá trong khoảng từ 0,33% - 0,71%; nhóm bưu chính viễn thông sau thời gian dài liên tục giảm giá đã bắt đầu tăng trở lại, tăng 0,49%; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng hầu như không tăng; do giá dầu thế giới giảm nên nhóm giao thông vận tải đã bắt đầu giảm giá (0,71%) so với tháng 5.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 6 tăng 4,78% so với tháng 12 năm 2009, tính chung 6 tháng đầu năm chỉ số giá tiêu dùng tăng 8,75% so cùng kỳ năm 2009.
Có thể nói thị trường hàng hóa trong nước luôn sôi động với mức cung đáp ứng cầu. Ngay cả trong dịp Tết cũng như các ngày lễ lớn...hàng hóa đều đa dạng về chủng loại, chất lượng từng bước được nâng cao. Phong trào
“ Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam“ các đợt đưa hàng về nông thôn, các khu công nghiệp, các Hôi chợ chuyên ngành...đã có tác động tích cực gia tăng lượng tiêu dùng hàng hóa sản xuất trong nước, chuyển biến nhận thức của người tiêu dùng đối với hàng Việt, đối với doanh nghiệp trong nước.
Xăng dầu, một trong những mặt hàng rất “nhạy cảm“, trong 6 tháng đầu năm về cơ bản là ổn định, bảo đảm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nền kinh tế, tình trạng gian lận thương mại trong kinh doanh xăng dầu đã được kiểm soát; các doanh nghiệp đầu mối thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Chính phủ về kiềm chế, giãn thời gian tăng giá, thực tế đã không tăng giá từ tháng 3 đến hết tháng 6.
Nếu quí I giá cả tiêu dùng có sự biến động mạnh, phần nào gây mối lo ngại về tình hình lạm phát của cả năm 2010: chỉ số giá tiêu dùng tháng 1,2,3 tăng so với tháng trước tương ứng 1,36%; 1,96%; 0,75% đã làm cho chỉ số giá tháng 3 tăng 4,12% so với tháng 12/2009. Mức tăng giá diễn ra ở hầu hết các nhóm hàng thiết yếu đã tác động lan toả sang nhiều loại hàng hoá và dịch vụ khác. Nguyên nhân được xác định chủ yếu ngoài sức mua tăng trong dịp Tết còn do tác động tăng giá nguyên liệu đầu vào (hàng hoá nhập khẩu), do biến động tỷ giá, chi phí sản xuất và lưu thông, điện, thuế VAT với một số loại hàng hoá tăng trở lại mức cũ. Tuy nhiên, sang quí II, chỉ số giá tiêu dùng đã ổn định với mức tăng nhẹ so với tháng trước: tháng 4 tăng 0,14%; tháng 5 tăng 0,27%; tháng 6 tăng 0,22%, nhờ các giải pháp kiềm chế lạm phát của Chính phủ. Qua đó cho thấy có triển vọng đẩy lùi được nguy cơ lạm phát cao của cả năm.
Hai nhóm hàng có tác động mạnh đến mức tăng giá chung của thị trường trong nước 6 tháng đầu năm là lương thực, thực phẩm và nhà ở vật liệu xây dựng. Nhóm lương thực, thực phẩm chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu chỉ số giá tiêu dùng đang có xu hướng giảm dần, đã góp phần làm chỉ số giá tăng chậm lại (2,27%) so với tháng 12 năm 2009. Nhóm hàng vật liệu xây dựng, giá cả biến động tăng mạnh từ cuối quí I, đầu quí II theo xu hướng giá nguyên vật liệu nhập khẩu đầu vào, nhưng đến nay đã ổn định, tuy vậy cũng đã tăng đến 9,08% so với tháng 12 năm 2009...
Nhìn chung, cung - cầu các mặt hàng thiết yếu trong 6 tháng đầu năm tiếp tục được đảm bảo, hàng hoá phong phú, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của xã hội. Nguồn cung các mặt hàng như vật liệu xây dựng (thép, xi măng) do ảnh hưởng từ việc tiết giảm điện nên mức sản xuất có tháng chững lại. Tuy nhiên, do lượng tồn kho trong lưu thông còn nhiều và nhu cầu trong nước chưa tăng mạnh nên vẫn đủ cung ứng cho các công trình xây dựng. Các mặt hàng khác như lương thực, muối, phân bón nguồn cung rất dồi dào, tuy nhiên nhu cầu chững lại, do xuất khẩu chưa tăng mạnh đối với lương thực và do thời tiết không thuận lợi (khô hạn, nước bị xâm mặn..) đối với phân bón.
6 tháng đầu năm cả nước có 438 dự án mới được cấp Giấy chứng nhận đầu tư (GCNĐT) với tổng vốn đăng ký 7,9 tỷ USD, tăng 43% so với cùng kỳ 2009. Trong đó, có 121 dự án đăng ký tăng vốn với tổng vốn tăng thêm là 525 triệu USD, bằng 10,7% so với cùng kỳ năm 2009.Tính chung cả cấp mới và tăng vốn, 6 tháng đầu năm mới đạt 8,43 tỷ USD, bằng 80,9% so với cùng kỳ 2009.
Công nghiệp chế biến, chế tạo là hai lĩnh vực thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà đầu tư với 164 dự án , tổng số vốn cấp mới và tăng thêm 2,87 tỷ USD, chiếm 34% tổng vốn đầu tư đăng ký trong 6 tháng.Với 3 dự án đầu tư được cấp phép nhưng lĩnh vực sản xuất, phân phối điện, khí, nước đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng ký khá cao 2,2 tỷ USD, chiếm 25,5% tổng vốn đầu tư đăng ký 6 tháng đầu năm. Kinh doanh bất động sản đứng thứ ba với 1,78 tỷ USD vốn cấp mới và tăng thêm, chiếm 21,2% tổng vốn đầu tư đăng ký, trong đó, cấp mới chiếm tỷ lệ lớn ( 12 dự án với tổng vốn đầu tư là 1,75 tỷ USD).
Trong số các dự án cấp mới , đáng chú ý có các dự án lớn là: Dự án Công ty TNHH điện lực AES-TKV Mông Dương (BOT nhiệt điện Mông Dương 2) với tổng vốn đầu tư là 2,1 tỷ USD; Dự án Công ty Sắt xốp Kobelco Việt Nam sản xuất phôi thép tại Nghệ An với tổng vốn đầu tư 1 tỷ USD; Công ty TNHH Skybridge Dragon Sea của Hoa Kỳ, xây dựng, kinh doanh Khu trung tâm hội nghị triển lãm, trung tâm thương mại, kinh doanh bất động sản tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu với tổng vốn đầu tư 902,5 triệu USD; Dự án Công ty TNHH Posco SS-Vina tại Bà Rịa - Vũng Tàu với tổng vốn đầu tư 620 triệu USD .
Trong 6 tháng đầu năm, có 39 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam. Các nhà đầu tư lớn là Hà Lan với tổng vốn đầu tư đăng ký 2,2tỷ USD chiếm 26,3%; Hàn Quốc đứng thứ 2 với tổng vốn đầu tư đăng ký 1,77 tỷ USD chiếm 21% ; Nhật Bản đứng thứ 3 với tổng vốn đăng ký là 1,22 tỷ USD, chiếm 14,5% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam.
Bà Rịa - Vũng Tàu là địa phương thu hút nhiều vốn ĐTNN nhất trong 6 tháng đầu năm với 2,16 tỷ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm. Tiếp theo là Quảng Ninh, TP Hồ Chí Minh, Nghệ An với quy mô vốn đăng ký lần lượt là 2,14 tỷ USD, 1,18 triệu USD và 1 triệu USD.
Có hơn 300 dự án FDI đầu tư vào mua, bán hàng hoá thuộc lĩnh vực thẩm tra của Bộ Công Thương, trong đó có gần 120 dự án đáp ứng được các quy định pháp luật có liên quan. Nhìn chung, hầu hết các dự án đều là dự án nguồn vốn nhỏ, chủ yếu đầu tư vào lĩnh vực xuất khẩu, nhập khẩu và phân phối máy móc, nguyên vật liệu cho hoạt động sản xuất (chiếm gần 70% tổng số dự án).
Về hoạt động nhượng quyền tại Việt Nam, trong 6 tháng đầu năm chỉ mới có 6 thương nhân nước ngoài đăng kí, chủ yếu vào lĩnh vực kinh doanh bán lẻ hàng tiêu dùng và nhà hàng ăn uống, thức ăn nhanh..
Hiện nay, Bộ Công Thương đang tổng kết việc mở cửa trong lĩnh vực phân phối kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO để đánh giá những kết quả đạt được, bài học kinh nghiệm và giải pháp cho thời gian tới.
Trích nguồn: Báo Công Thương