NCEIF - Để thực hiện thành công chiến lược tăng trưởng bền vững của nền kinh tế Việt Nam (VN) trong giai đoạn 2011-2020, theo đánh giá của nhiều chuyên gia kinh tế, cùng với việc giải quyết đồng bộ các giải pháp khác nhau, việc đẩy mạnh phát triển nền kinh tế tri thức là một định hướng rất quan trọng và có tính khả thi. Định hướng này cũng phù hợp với xu thế vận động của nền kinh tế thế giới trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai.
Theo nhận định của Ngân hàng Thế giới (WB), một quốc gia muốn chuyển sang nền kinh tế tri thức cần hình thành bốn trụ cột chính: Đó là giáo dục; phát minh sáng chế; cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông; hệ thống thể chế các chính sách kinh tế.
Căn cứ vào các chỉ số bình quân từ dữ liệu của 4 trụ cột này, WB đã đưa ra chỉ số về kinh tế tri thức KEI ( Knowledge Economy Index) nhằm đánh giá sự chuẩn bị của một đất nước để chuyển sang nền kinh tế tri thức. Tổng cộng có 81 tiêu chí được đưa ra so sánh tương quan 132 quốc gia, với điểm số kém nhất là 0 điểm đến điểm số cao nhất là 10 điểm. Theo chỉ số KEI, chỉ số kinh tế tri thức năm 2008 của Việt Nam chỉ đạt 3,02, xếp 102/133 nước, trong khi các nước có thu nhập trung bình chỉ số này là 4,1. Thêm vào đó, năng suất lao động của nước ta rất thấp, chỉ bằng 38% Trung Quốc và 27% Thái Lan.
So với năm 1995, thứ hạng của VN tăng 14 bậc. Song so với các nước tương đương trong vùng, kinh tế tri thức của VN thấp nhất (Indonesia hạng 103, Philippines hạng 89, Thái Lan 63, Malaysia 48 và Singapore hạng 19). Việt Nam thậm chí còn ở thứ hạng thấp hơn cả bán đảo Fiji (hạng 86). Đây là bảng xếp hạng trong tình hình Philippines đã giảm 16 bậc, Indonesia giảm 2 và Thái Lan giảm 9 bậc.
Về phát minh sáng chế, cho dù đã được cải thiện nhưng VN vẫn có rất ít các phát minh sách chế. Theo ý kiến của nhiều nhà khoa học, năm 1973, 3 nước là Thái Lan, Singapore, VN có điểm xuất phát gần như nhau, nhưng đến năm 2000, số công trình được đăng trên các tạp chí khoa học quốc tế của VN chỉ bằng của Thái Lan và Singapore vào thời điểm năm 1980. Còn hiện nay, Thái Lan nhiều hơn VN đến 5 lần, Singapore nhiều hơn 12,5 lần trong khi số lượng các nhà khoa học ít hơn. Nếu để ý rằng VN có một đội ngũ hùng hậu với gần 2 triệu người làm khoa học công nghệ, hàng vạn thạc sĩ, tiến sĩ, gần 2000 giáo sư, gần 6000 phó giáo sư và hàng triệu cử nhân, kỹ sư thì mới thấy lĩnh vực phát minh sáng chế của VN còn thua xa ngay cả so với các nước trong khu vực Asean.
Nếu nhìn vào tình hình xuất khẩu hàng hóa kỹ thuật cao (hi-tech) - một chỉ số quan trọng của nền kinh tế tri thức - thì thấy năm 2008, VN xuất khẩu đạt 48,6 tỉ USD. Con số này có vẻ ấn tượng nhưng vẫn chưa bằng 1/3 của Thái Lan (153,6 tỉ USD) và chỉ bằng 16% của Singapore (399,3 tỉ USD). Thực tế là xuất khẩu hàng hi-tech của VN thấp nhất so với các nước trong khu vực. Hơn 20% tổng trị giá xuất khẩu của VN là khoáng sản và có tới 41% là hàng công nghiệp mà chủ yếu là gia công, dệt may. Trong khi đó, ngành xuất khẩu chủ đạo của Thái Lan là máy móc và thiết bị (chiếm 45% tổng giá trị xuất khẩu) và hàng công nghiệp (24%). Singapore cũng tương tự Thái Lan.
Một trong những chỉ số tăng mạnh nhất của VN trong 4 trụ cột của nền kinh tế tri thức là công nghệ thông tin (CNTT) và truyền thông, đạt 3,49 điểm ( so sánh với điểm bình quân của thế giới là 6,0 điểm, Malaysia 7,3 điểm, Singapore là 9,19 điểm). Tuy nhiên, vấn đề là lực lượng lao động CNTT của VN còn ít, chưa có kinh nghiệm. Trong 40 triệu công nhân VN, chỉ có 20.000 lao động trong lĩnh vực CNTT, trong khi chỉ có 3.500-4000 sinh viên tốt nghiệp với các bằng cấp CNTT hàng năm. Ngoài ra, khu vực CNTT và truyền thông Việt Nam (ICT) tiếp tục phát triển chậm nhất khu vực, chỉ số ICT của VN chỉ đạt 3,49 điểm so với 7,04 điểm của Châu Á- Thái Bình Dương.
Theo đánh giá của các tổ chức quốc tế, mặc dù tốc độ phát triển của CNTT và truyền thông của VN từ năm 2000 đến nay đều tăng ở mức 2 con số nhưng do điểm xuất phát thấp nên vị trí của VN trên bản đồ kinh tế tri thức thế giới vẫn còn ở mức trung bình thấp, thậm chí có chỉ tiêu như sự sẵn sàng cho nền kinh tế điện tử còn xếp gần cuối bảng trong số nhiều nước xếp hạng.
Một số giải pháp
Ngay từ Đại hội lần thứ IX (năm 2001), lần đầu tiên Đảng ta xác định: "Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất" và đề ra định hướng "từng bước phát triển kinh tế tri thức". Đến Đại hội lần thứ X (năm 2006) Đảng ta lại nhấn mạnh "Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa gắn với từng bước phát triển kinh tế tri thức". Văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng có sự phát triển mới về nhận thức lý luận và thực tiễn, đề ra định hướng: “phát triển kinh tế tri thức, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới” và đây là một trong những chủ trương có vai trò định hướng rất quan trọng trong thời kỳ mới đến năm 2020.
Sự đánh giá đúng đắn vị trí vai trò của kinh tế tri thức còn thể hiện trong việc coi phát triển kinh tế tri thức là phương hướng số một trong 8 phương hướng cơ bản xây dựng nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH); là một trong những định hướng lớn về khoa học công nghệ. Để sớm đưa nền kinh tế tri thức VN phát triển mạnh mẽ, ngang tầm với các nước trong khu vực cũng như thế giới, Chính phủ cần tập trung vào một số giải pháp quan trọng dưới đây:
Thứ nhất, cần sớm xây dựng một Chương trình phát triển kinh tế tri thức mang tầm cỡ chiến lược quốc gia, coi đây là “trục” của Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội đưa nước ta trở thành nước công nghiệp hiện đại. Trong đó, coi việc tập trung nguồn lực cho phát triển giáo dục và đào tạo, nhất là ở bậc đại học và dạy nghề, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, những nhà khoa học, công nghệ đầu đàn, những doanh nhân tầm cỡ và lao động lành nghề. Đồng thời, phải trí thức hóa giai cấp công nhân, nông dân lao động, nâng cao dân trí trong toàn xã hội. Cơ sở vật chất và các trang thiết bị cho nghiên cứu khoa học phải được triển khai cùng với những chủ trương, chính sách khác để tập trung vào một số lĩnh vực có chọn lọc mà chúng ta thường nói là “đi tắt đón đầu”.
Cần đổi mới chính sách để tạo nguồn lực và khai thác có hiệu quả nguồn lực mới (giáo dục - thông tin - tri thức) đang tiềm ẩn ở nước ta. Đặc biệt coi trọng nguồn vốn trí tuệ đã và đang có trong lĩnh vực hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội , quốc phòng, an ninh ở trong nước và của người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Mặt khác, cần có chiến lược đúng đắn về nhân tài trong tổng thể chiến lược con người trong suốt thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thứ hai, cần đầu tư vào những ngành mũi nhọn của quốc gia như: công nghệ thông tin, nhất là công nghệ phần mềm; công nghệ số hoá, công nghệ năng lượng mới, vật liệu mới, công nghệ sinh học...
Tập trung ưu tiên đầu tư phát triển mạnh một số khu công nghệ cao đã và đang hình thành ở nước ta như: Hoà Lạc (Hà Nội), Quang Trung (Thành phố Hồ Chí Minh)… coi đây là những hình mẫu, đầu tàu của khoa học - công nghệ - công nghiệp quốc gia...
Phát triển các các khu công nghiệp - công nghệ cao cấp vùng, với hạt nhân là các Vườn ươm công nghệ- Vườn ươm doanh nghiệp hiện đại, thay thế các Khu Công nghiệp kiểu cũ, đang tỏ ra kém hiệu quả, thậm chí cản trở sự phát triển.
Thứ ba, coi trọng nguyên tắc phát triển khoa học công nghệ với sự dẫn dắt, hỗ trợ của thị trường- doanh nghiệp, được khuyến khích, nuôi dưỡng bằng tinh thần cạnh tranh thị trường lành mạnh. Đặc biệt chú trọng phát triển thị trường công nghệ, coi đây là sức kích thích quan trọng nhất của nền khoa học công nghệ quốc gia.
Thứ tư, Nhà nước cần thực sự đóng vai trò bà đỡ, tạo khung khổ pháp lý và hỗ trợ các điều kiện cần thiết để phát triển khoa học- công nghệ và cho hoạt động nghiên cứu, nghiên cứu - triển khai.
Thứ năm, thực hiện một chiến lược phát triển khoa học có lộ trình phù hợp với năng lực nội sinh và có khả năng tranh thủ các thành tựu của thế giới. Trong giai đoạn đầu tiên, chiến lược đó cần dành sự ưu tiên cho việc khuyến khích hoạt động tiếp nhận, học hỏi và ứng dụng thành tựu khoa học- công nghệ của thế giới; trên nền tảng đó, tạo ra và làm mạnh lên năng lực nghiên cứu nội sinh, từ đó, xây dựng nền khoa học- công nghệ mạnh của Việt Nam, sánh vai với thế giới.
Thứ sáu, thu hút các tập đoàn xuyên quốc gia, có tiềm lực khoa học- công nghệ và tài chính mạnh đầu tư vào Việt Nam, khuyến khích họ xây dựng các trung tâm nghiên cứu- phát triển, tạo kênh để từ đó, tri thức công nghệ lan toả rộng rãi ra toàn bộ nền kinh tế./.
------------
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- www.tapchicongsan.org.vn
- www.tinkinhte.com
- http://tuoitre.vn
- www.vcci.com.vn
Tác giả: Nguyễn Phương Ly