"Để có được một Nhà nước phát triển trước tiên cần có một đội ngũ lãnh đạo tận tâm với sự tăng trưởng và chuyển đổi kinh tế, với sức mạnh, quyền lực và tính hợp pháp để thúc đẩy phát triển".- Phạm Hưng Hùng.
Mô hình cho các nước công nghiệp hóa muộn
Trước khi Nhật Bản nổi lên với giai đoạn phát triển thần kỳ, hệ thống kinh tế thế giới được phân cơ bản chia thành 2 nhánh là nền kinh tế thị trường tự do của các nước Tư bản chủ nghĩa và nền kinh tế chỉ huy của các nước Xã hội chủ nghĩa.
Các nghiên cứu về kinh tế Nhật Bản cho thấy Nhật Bản bắt đầu một nhánh mới của hệ thống kinh tế thế giới, đó là Hệ thống kế hoạch hợp lý (Plan-rational system) hay “Nhà nước phát triển” (the Developmental State).
Theo sau Nhật Bản, các nước học tập mô hình kinh tế này và đã rất thành công là Hàn Quốc, Đài Loan, Singapo và Hồng Kông (các nước NIC).
Tuy nhiên, cũng có rất nhiều quốc gia không thành công hoặc kết quả đạt được còn nhiều hạn chế như Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia, hay Philipin, hay một số nước khác như Ấn Độ, Braxin,… sau một thời gian dài công nghiệp hoá, phát triển kinh tế đất nước, tuy đã đạt được những tăng trưởng nhất định nhưng nền kinh tế của họ không thể cất cánh được.
“Nhà nước phát triển” (không phải từ “phát triển” như ta gặp trong các cụm từ các nước phát triển, nước đang phát triển và nước chậm phát triển, những khái niệm này sử dụng cụm từ “developed, developing, underdeveloped countries”) là một khái niệm khá phức tạp với cấu trúc và cơ cấu rất chặt chẽ và tinh tế mới có thể đạt tới sự thành công cao như Nhật Bản và các nước NIC.
Tuy nhiên, về cơ bản có thể nhìn nhận mô hình này phù hợp với các quốc gia công nghiệp hoá muộn: Đối với các nước công nghiệp hoá muộn, bản thân Nhà nước dẫn dắt sự nghiệp công nghiệp hoá, tức là, Nhà nước đảm trách các chức năng phát triển. Trong hệ thống này, Chính phủ (Nhà nước sẽ dành sự ưu tiên lớn nhất cho chính sách công nghiệp, tức là quan tâm đến cơ cấu của nền công nghiệp trong nước và quan tâm khuyến khích một cơ cấu có khả năng tăng cường sức cạnh tranh quốc tế của quốc gia.
Sức mạnh cộng hưởng của mô hình Đông Á
Để có được một Nhà nước phát triển (NNPT) trước tiên cần có một đội ngũ lãnh đạo tận tâm với sự tăng trưởng và chuyển đổi kinh tế, với sức mạnh, quyền lực và tính hợp pháp để thúc đẩy phát triển.
Thêm vào đó là một đội ngũ quản lý có đủ khả năng và quyền lực, đặc biệt về mặt kinh tế, với năng lực quản lý và trình độ kỹ thuật đủ để định hướng và dẫn dắt sự phát triển kinh tế xã hội. Từ điều kiện tiên quyết này mới có thể tổng động viên được toàn bộ nền kinh tế tham gia vào công cuộc phát triển kinh tế quốc gia, hướng tới những thành công, đưa đất nước cất cánh.
Nghiên cứu về Nhật Bản cho thấy, nước Nhật là một nền kinh tế huy động (tổng động viên) cho chiến tranh và chưa bao giờ dừng huy động trong thời kỳ hoà bình. Cùng với sự tổng động viên đó là những mục tiêu phấn đấu cao và rõ ràng như "nước giàu, quân đội mạnh" thời Meiji, sau đó là "mở rộng khả năng sản xuất", "thúc đẩy xuất khẩu", "đầy đủ việc làm", và "tăng trưởng tốc độ cao",… đã trở thành một trong những nhân tố tiên quyết cho thời kỳ phát triển thần kỳ của Nhật Bản những năm 1960.
Mô hình NNPT, cũng giúp Hàn Quốc từ một trong 25 nước nghèo nhất thế giới trở thành quốc gia có thu nhập bình quân đầu người đạt 11.000 USD chỉ sau 4 thập kỷ.
Nhìn tác phong làm việc của người Nhật Bản và người Hàn Quốc, sự tận tuỵ và khả năng cống hiến của họ, có thể thấy họ đã nỗ lực như thế nào trong công việc. Nhìn toàn thể xã hội của họ sẽ thấy được sự tổng động viêc cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội được huy động như thế nào. Bên cạnh đó, chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy sự phát triển vượt bậc của Singapo và Đài Loan trong những thập kỷ qua.
Nhìn vào những điển hình kinh tế trên chúng ta có thể thấy được tính ưu việt của mô hình kinh tế này đối với các nước đang nỗ lực vươn lên trong sự nghiệp phát triển kinh tế. Phương Tây thường gọi mô hình này là mô hình phát triển kinh tế của các nước Đông Á. Tuy nhiên, với sự thành công của các nước Đông Á đi đầu thực hiện, mô hình này không chỉ được áp dụng ở các nước Đông Á mà đã được áp dụng ở cả các nước thuộc Châu Mỹ La Tinh và Châu Phi.
Việt Nam với mô hình Nhà nước phát triển
Việt Nam là một trong những nước công nghiệp hoá (CNH) muộn, đợt 2 (late late industrialization).
Việt Nam đang đi theo mô hình kinh tế “Nhà nước phát triển”. Điều này thể hiện trong suốt chặng đường đổi mới bắt đầu từ năm 1986, với những mục tiêu phát triển kinh tế rõ ràng của mỗi giai đoạn và sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước xuyên suốt cả chặng đường, với sự lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng và Nhà nước.
Những cam kết phát triển kinh tế mạnh mẽ của Đảng và của Nhà nước cho thấy điều kiện tiên quyết xây dựng một mô hình Nhà nước phát triển đã có.
Nhưng để đạt được đến sự thành công như Nhật Bản và các nước NIC, đưa đất nước cất cánh là cả một chặng đường dài đầy gian khó. Vì con đường đi tới sự thành công của một Nhà nước phát triển có rất nhiều “cạm bẫy” mà không phải quốc gia nào, cá nhân nào cũng có thể vượt qua được.
“Nhà nước phát triển” là một mô hình kinh tế với cấu trúc hết sức phức tạp, với sự hiện diện của một hệ thống các mối liên hệ, ràng buộc tinh tế giữa Nhà nước và các thành phần kinh tế, xã hội.
Một “Nhà nước phát triển” thành công phải đảm bảo được hai nhân tố là: Sức mạnh, hay năng lực tự trị của bộ máy nhà nước và sự gắn kết hay hoà nhập của sức mạnh tự trị này vào trong hệ thống kinh tế xã hội của đất nước để huy động được sức mạnh tổng thể của toàn xã hội cho mục tiêu phát triển kinh tế quốc dân. Rất cần có sự liên hệ biện chứng không ngừng giữa Nhà nước và Xã hội để liên tục điều chỉnh các mục tiêu và chính sách cho phù hợp hơn và hiệu quả hơn.
Theo TuanVietnam