Khủng hoảng tài chính và kinh tế thế giới chưa có dấu hiệu kết thúc sớm đã và đang ảnh hưởng không tốt đến kinh tế Việt Nam nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng, điều đó càng rõ nét từ giữa năm 2008, nhất là trong quý IV. Từ tình hình thị trường thực tế trong nước và quốc tế, dự kiến kim ngạch nhập khẩu năm 2009 tăng 2,4%, ở mức 84 tỷ USD.
Bức tranh toàn cảnh hoạt động xuất khẩu năm nay đã rõ. Xuất khẩu hàng hóa mấy tháng cuối năm gặp khó do cầu từ các thị trường chính giảm. Các đơn hàng xuất khẩu dệt-may, hạt tiêu, hạt điều, đồ gỗ,... vào Mỹ, Nhật Bản, EU,... đều giảm 20 - 30%. Nhiều hợp đồng đã ký ách tắc do đối tác không có khả năng thanh toán hoặc chậm thanh toán. Giá các mặt hàng xuất khẩu chủ lực giảm mạnh. So với tháng 9, sang đầu tháng 12, giá gạo giảm khoảng 30%, cà-phê giảm 20%, cao-su giảm 30%, dầu thô giảm 40%,... Nếu so với giữa năm, mức giảm tương ứng là 60%, 30%, 55% và 60%. Trong nước, thiên tai dịch bệnh diễn biến phức tạp. Do lạm phát và các biện pháp kiềm chế lạm phát, nhiều doanh nghiệp (DN) sản xuất hàng xuất khẩu và kinh doanh xuất khẩu thiếu vốn trầm trọng. Liên tiếp trong bốn tháng, từ tháng 7 đến tháng 11, kim ngạch xuất khẩu giảm: Dự kiến năm 2008, tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu khoảng 63,5 - 64 tỷ USD (tăng 30,8 - 31,8% so năm 2007); tổng giá trị hàng hóa nhập khẩu khoảng 82 tỷ USD (tăng 30,8%). Nhập siêu cả năm khoảng 18 - 18,5 tỷ USD, bằng 28,1% - 29,2% kim ngạch xuất khẩu.
Ðể thực hiện mục tiêu Quốc hội đề ra: Tăng trưởng xuất khẩu năm 2009 đạt 13%, tương đương khoảng 72 tỷ USD, hoạt động xuất khẩu phải vượt nhiều khó khăn. Tình hình kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, tăng trưởng kinh tế toàn cầu suy giảm, nhiều nền kinh tế lớn suy thoái hoặc tiến gần suy thoái, tăng trưởng của các nền kinh tế mới nổi chững lại. Hàng hóa Việt Nam phải cạnh tranh khốc liệt với hàng hóa cùng chủng loại của các nước châu Á trong khi nhu cầu và khả năng nhập khẩu tại các thị trường chủ lực giảm. Giá hàng hóa xuất khẩu thấp, nhiều mặt hàng nông, lâm, thủy sản, khoáng sản có thể mất giá bình quân đến 30 - 40%. Năng lực sản xuất hàng nông sản, khoáng sản đã đến ngưỡng. Nhiều mặt hàng công nghiệp xuất khẩu chủ lực có kim ngạch lớn như dệt-may, da giày thiếu thị trường và vướng các rào cản kỹ thuật, các biện pháp bảo hộ từ các nước nhập khẩu.
Vượt qua các "cửa ải" lớn, hỗ trợ sản xuất hàng xuất khẩu và xuất khẩu, cần nghiên cứu giảm lãi suất cơ bản, điều chỉnh lãi suất và xử lý linh hoạt tỷ giá theo tín hiệu thị trường; xây dựng cơ chế để các ngân hàng thương mại đẩy mạnh cho vay xuất khẩu. Tạm thời không áp dụng thuế nhập khẩu các mặt hàng nguyên liệu đầu vào cho sản xuất hàng xuất khẩu để tăng sức cạnh tranh hàng hóa và tận dụng cơ hội giảm phát của thị trường thế giới. Sử dụng hiệu quả công cụ Ngân hàng phát triển hỗ trợ DN, bổ sung nguồn vốn, bổ sung hình thức cho vay tín chấp dựa trên tính khả thi của dự án; giảm lãi suất cho vay tín dụng xuất khẩu; bổ sung danh mục mặt hàng và lĩnh vực được vay vốn ưu đãi; bảo lãnh tín dụng với một số mặt hàng xuất khẩu...
Nghiên cứu hỗ trợ nông dân theo cam kết WTO về hỗ trợ nông nghiệp; hỗ trợ thiết bị và kinh phí bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm; hỗ trợ bảo quản nông sản sau thu hoạch (kho chứa, lò sấy,...); xây dựng tiêu chuẩn và quy chuẩn hàng nông, lâm, thủy sản xuất khẩu; xây dựng thương hiệu. Các cơ quan chức năng theo dõi sát tình hình kinh tế trong nước và thế giới, nâng cao chất lượng thông tin dự báo, phát hiện kịp thời và chủ động ứng phó hiệu quả các rào cản kỹ thuật các nước dựng lên để hạn chế hàng xuất khẩu Việt Nam. Thúc đẩy hoạt động xúc tiến thương mại theo phương thức trực tiếp hỗ trợ mặt hàng và hợp đồng xuất khẩu; quan tâm những thị trường lớn, truyền thống và phát triển thị trường "ngách" tiềm năng,... ở cả cấp Nhà nước và doanh nghiệp.
Bộ Công thương đề nghị các hiệp hội ngành hàng khuyến cáo doanh nghiệp rà soát hợp đồng xuất khẩu đã ký, nhất là hợp đồng dài hạn, hợp đồng kỳ hạn. Ðặc biệt chú ý khả năng thanh toán của đối tác. Thận trọng khi sử dụng các công cụ thanh toán, điều kiện thanh toán trong các giao dịch. Phối hợp các cơ quan thương vụ Việt Nam tại nước ngoài kiểm chứng tình trạng pháp lý và tài chính của đối tác, đặc biệt tại các khu vực chịu tác động mạnh của khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Tiếp tục thực hiện các giải pháp hạn chế nhập khẩu như quản lý nhập khẩu bằng giấy phép tự động đối với hàng tiêu dùng, công bố danh mục mặt hàng nhập khẩu phải nộp thuế ngay trước thông quan, tăng cường kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu và sử dụng hàng rào kỹ thuật để nâng cao chất lượng nhập khẩu. Ðiều đặc biệt quan trọng là phát triển sản xuất các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, các loại nguyên liệu, các mặt hàng phụ trợ để sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu... thay thế hàng nhập khẩu, góp phần hạn chế nhập siêu. Các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước đẩy nhanh tiến độ xây dựng, sớm đưa các dự án đầu tư về điện, sắt thép, phân bón, dệt nhuộm, hóa dầu... vào hoạt động. Ðầu tư mạnh vào công nghiệp phụ trợ.
Thúc đẩy đàm phán, sớm ký kết các hiệp định song phương và đa phương, thiết lập các khu vực mậu dịch tự do, tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu, qua đó giảm nhập siêu. Tăng cường trao đổi thông tin với các đối tác thương mại mà nước ta nhập siêu để phối hợp tìm giải pháp tăng xuất khẩu từ Việt Nam, phù hợp các quy tắc của WTO.
Từ tình hình thị trường thực tế trong nước và quốc tế, dự kiến kim ngạch nhập khẩu năm 2009 tăng 2,4%, ở mức 84 tỷ USD. Nếu vậy, nhập siêu sẽ vào khoảng 17 - 18 tỷ USD, bằng 27% kim ngạch xuất khẩu.
Theo ND