Là nước đông dân, Việt Nam có thị trường nội địa rộng lớn. Trong nhóm các nước đang phát triển, Việt Nam hiện được coi là một điểm đầu tư hấp dẫn trong lĩnh vực bán lẻ. Mức lưu chuyển hàng hóa của thị trường trong nước liên tục tăng trưởng trong những năm qua.
Ða dạng hoạt động xúc tiến thương mại
Trong giai đoạn 2001 - 2005, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tăng bình quân hằng năm 14,8%. Ba năm tiếp theo của giai đoạn 2006 - 2010, thị trường trong nước còn tăng trưởng nhanh hơn. Năm 2006, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ đạt 580 nghìn tỷ đồng, tăng 20,9% so với năm 2005. Năm 2007, chỉ số đó đạt 726 nghìn tỷ đồng, tăng 23% so với năm 2006. Năm 2008, tương ứng là 968 nghìn tỷ đồng, tăng 31% so với năm 2007, mức tăng cao nhất trong nhiều năm gần đây, trong đó TP Hồ Chí Minh tăng 38,5%. Ðóng góp vào mức tăng trưởng về lưu chuyển hàng hóa của thị trường nội địa thời gian qua không thể không nhắc đến vai trò hoạt động xúc tiến thương mại (XTTM) của các địa phương, các ngành hàng, trong khi hướng mạnh về xuất khẩu nhưng vẫn không quên thị trường trong nước. XTTM đã nhanh chóng bắt nhịp và tác động rõ nét, trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong phát triển kinh tế - thương mại của mỗi địa phương, của mỗi ngành hàng...
Mỗi năm, hàng trăm cuộc hội chợ triển lãm (HCTL) trong nước với quy mô khác nhau được tổ chức, mang tính chuyên nghiệp ngày càng cao, tạo ra sự liên kết các vùng miền.
Xây dựng thương hiệu đã trở thành nhu cầu thiết yếu của doanh nghiệp (DN) bởi trong nền kinh tế thị trường, thương hiệu là tài sản quan trọng của mỗi DN, nhờ những tác động kinh tế mà nó mang lại. 30 DN đầu tiên được lựa chọn tham gia Chương trình Thương hiệu quốc gia và ngày 20-4 hằng năm được công nhận là Ngày Thương hiệu Việt Nam là dấu mốc mới để hàng hóa và DN "chỉnh trang" hình ảnh trước khi "đem chuông đi đánh xứ người". Nhiều DN đã đăng ký và thực hiện Chương trình khuyến mại. Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và nhiều địa phương tổ chức "Tháng khuyến mại" vào mùa mua sắm..., làm cầu nối giữa DN với người tiêu dùng, kích cầu thị trường.
Việc thu thập, phân tích, cung cấp thông tin về thị trường bằng nhiều phương tiện kỹ thuật cao đã đem đến cho DN nhiều cơ hội kinh doanh mới. Công tác đào tạo nguồn lực làm XTTM đã được chú ý ở các cấp ngành, đơn vị, sử dụng phương thức đa dạng, từ nhiều nguồn vốn khác nhau. Nhờ vậy, bước đầu có được lớp cán bộ mới làm XTTM có ngoại ngữ, chuyên sâu nghiệp vụ, kỹ thuật, nâng cao tính chuyên nghiệp XTTM.
Trong hoạt động XTTM, có điểm nhấn là Chương trình XTTM quốc gia. Thông qua hàng trăm đề án tổ chức HCTL, khảo sát thị trường, đào tạo nguồn lực, xây dựng và phát triển thương hiệu, Nhà nước hỗ trợ các DN nâng cao sức cạnh tranh, mở rộng thị trường. Bên cạnh đó, từng DN cũng dành kinh phí đáng kể khiến hoạt động XTTM ngày càng linh hoạt. Hiện các cấp quản lý đang đề xuất bổ sung phương thức mới từ việc xây dựng đến khâu thực hiện để Chương trình XTTM quốc gia có hiệu quả cao hơn.
Với các loại hình phong phú, "phủ sóng" trên diện rộng, ở mức độ khác nhau, hoạt động XTTM đóng góp to lớn vào việc quảng bá hàng hóa Việt Nam, tiềm năng kinh tế - thương mại đất nước.
Giải pháp đẩy mạnh xúc tiến thương mại trong nước
Tuy vậy, hoạt động XTTM còn một số mặt bất cập. Cơ sở vật chất cho hoạt động XTTM quy mô toàn quốc còn hạn chế, ở các địa phương còn nhiều thiếu thốn. Nhiều HCTL phải tiến hành tại Nhà bảo tàng, Trung tâm Văn hóa, Sân vận động... Tại một số HCTL, hàng hóa trưng bày không nổi trội, trùng lặp; vài DN chỉ nhằm bán hàng, không lo thăm dò thị trường để có đối sách với từng mặt hàng và mở rộng thị trường về lâu dài. Bên cạnh đó, thông tin thu thập chưa thật phong phú, chuyển tải chưa nhanh, khả năng phân tích, dự báo, năng lực vận dụng hạn chế, đề ra đối sách chưa nhạy bén với những diễn biến thất thường của cung cầu, giá cả thị trường. Cũng còn có khoảng cách giữa trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ so với yêu cầu. Nhân sự của một số tổ chức XTTM được điều chuyển từ các khâu nghiệp vụ khác sang, chưa kịp đào tạo chuyên môn, ngoại ngữ. Nhiều tổ chức XTTM chưa thu hút được nguồn nhân lực có trình độ cao và kỹ năng thực hành giỏi về XTTM. Khả năng tiếp thu và vận dụng kinh nghiệm của nước ngoài còn hạn chế. Có trường hợp quảng cáo thương mại, khuyến mại lạm dụng kỹ xảo, chạy theo lợi nhuận, làm sai lệch mục đích của dịch vụ này.
Những yếu kém đó còn có nguyên nhân do XTTM là hoạt động mới, trong bối cảnh đang hoàn thiện cơ chế vận hành nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nguồn tài chính ở nơi này nơi khác còn eo hẹp, công tác XTTM lại chưa được quan tâm đúng mức, nên có nơi ngân sách mới chỉ để duy trì bộ máy hành chính của tổ chức XTTM, chưa thể triển khai nhiều hoạt động khác.
Tình hình đó đã làm cho nhịp độ lưu chuyển hàng hóa trong nước chưa đạt kết quả như mong muốn. Thu nhập bình quân theo đầu người chỉ bằng 33% mức bình quân của thế giới và sức mua theo tỷ giá hối đoái đứng thứ 133 thế giới. Hơn nữa, hiện nay cần phải hạn chế tác động xấu của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu và từ ngày 1-1-2009, theo cam kết gia nhập WTO, Việt Nam mở cửa thị trường bán lẻ hoàn toàn cho các nhà phân phối nước ngoài. Vì thế, việc tiếp tục phát triển thị trường trong nước vừa cấp thiết, vừa là vấn đề chiến lược, nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, gián tiếp giảm nhập siêu, nhất là dòng hàng từ các nền kinh tế ngoài nước tràn vào, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng GDP. Muốn đạt mục tiêu đó cần có hệ thống đồng bộ các giải pháp, trong đó riêng với hoạt động XTTM nội địa, cần các giải pháp sau.
Một là, đổi mới cơ chế chính sách, trước hết về tài chính, vừa huy động được nhiều nguồn tài lực cho XTTM, vừa động viên những người tâm huyết với sự nghiệp XTTM. Sớm ra đời Quỹ Xúc tiến thương mại - đầu tư - du lịch, thay cho quỹ hỗ trợ cho xuất khẩu đã được hủy bỏ.
Hai là, hoàn thiện hệ thống XTTM, tạo ra sự liên kết, phối hợp giữa các tổ chức XTTM của các địa phương, các ngành hàng, vừa bảo đảm hài hòa lợi ích của mỗi tổ chức, vừa phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống. Ban hành văn bản pháp lý quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, bộ máy của tổ chức XTTM địa phương.
Ba là, trên cơ sở khảo sát tổng thể hiện trạng về cơ sở hạ tầng cho XTTM, sẽ điều tra, khảo sát và xây dựng các dự án hài hòa trong quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của toàn quốc cũng như của địa phương. Trên cơ sở đó tập trung tài lực xây dựng các Trung tâm HCTL, Trung tâm tổ chức hội nghị và sự kiện, sàn giao dịch..., ngang tầm khu vực và thế giới.
Bốn là, tăng cường việc đào tạo với nhiều hình thức, bằng nhiều nguồn vốn nhằm nâng cao năng lực xúc tiến thương mại cho cán bộ các cơ quan xúc tiến thương mại địa phương, các hiệp hội ngành hàng; tăng cường kỹ năng tiếp thị, bán hàng của DN.
Năm là, ứng dụng công nghệ điện tử, tăng cường năng lực khai thác, tiếp nhận, phân tích, xử lý, dự báo thông tin trong lĩnh vực sản xuất, lưu thông, nhất là ở các Sở Công thương, các tổ chức XTTM địa phương, các hiệp hội ngành hàng.
Sáu là, xúc tiến đầu tư phát triển công nghiệp nhằm góp phần nâng cao năng lực sản xuất hàng hóa chất lượng tốt, hợp thị hiếu, giá cả hợp lý làm phong phú quỹ hàng hóa, kích thích người tiêu dùng.
Bảy là, tuyên truyền, nâng cao khả năng của người tiêu dùng nhận biết về chất lượng, công năng hàng hóa để thúc đẩy các nhà sản xuất cải tiến mẫu mã, bảo đảm vệ sinh an toàn, nâng cao chất lượng, khả năng cạnh tranh.
Đỗ Thắng Hải - Cục trưởng Xúc tiến thương mại, Bộ Công thương
Theo ND